Sáng 2/10, tại Hà Nội, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), Bộ Tài chính phối hợp với Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) tổ chức Hội thảo tham vấn về thị trường hydrogen sạch tại Việt Nam.
Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá trị
Phát biểu tại hội thảo, ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), cho rằng hydrogen là một trong những lĩnh vực Việt Nam có cơ hội tham gia cùng nhịp với thế giới.
“Trong nhiều năm chúng tôi làm việc với các tập đoàn thì họ đều nói rằng đối với lĩnh vực hydrogen, Việt Nam là một trong những quốc gia có cơ hội đi cùng một nhịp. Không dễ có nhiều lĩnh vực chúng ta có cơ hội”, ông Thịnh nói.
Ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC).
Theo ông Thịnh, Việt Nam có lợi thế đáng kể về nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời và điện gió. Tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi trong toàn vùng đặc quyền kinh tế được ước tính khoảng 1.068 GW. Một số khu vực cũng có khả năng hình thành các hành lang phát triển hydrogen gắn với lợi thế năng lượng và hạ tầng hiện hữu.
Bên cạnh nguồn năng lượng, Việt Nam đã có nhu cầu sử dụng hydrogen trong một số ngành công nghiệp. Hiện mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 500.000 tấn hydrogen, chủ yếu phục vụ lọc hóa dầu và sản xuất phân bón.
Theo Phó Giám đốc NIC, lọc hóa dầu và sản xuất phân bón có lợi thế chuyển đổi sớm do đã sử dụng hydrogen. Trong khi đó, thép được xác định là lĩnh vực có nhu cầu lớn trong dài hạn. Hydrogen cũng có dư địa trong công nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất điện và xuất khẩu.
Quy mô thị trường hydrogen của Việt Nam được ước tính có thể đạt khoảng 100 tỷ USD vào năm 2035. Tuy nhiên, cơ hội chỉ có ý nghĩa khi Việt Nam có thể chuyển những lợi thế này thành các dự án cụ thể và tham gia sâu vào chuỗi giá trị.
“Nếu chúng ta biết cách thì có thể tham gia rất sâu vào chuỗi giá trị. Nhưng nếu bỏ lỡ cơ hội này khoảng 5-10 năm thì các nước khác có thể sẽ đi rất xa”, ông Thịnh nhấn mạnh.
Ông Đỗ Tiến Thịnh cho biết, Việt Nam có thể xem xét các bước chuyển tiếp trước khi tiến tới hydrogen xanh lá ở quy mô lớn. Trong đó, hydrogen xanh lam có thể là một khâu chiến lược trong quá trình này. Dù có nhiều lợi thế, nguồn hydrogen hiện nay của Việt Nam vẫn đến hoàn toàn từ than và khí tự nhiên. Chưa có dự án hydrogen xanh lá hoặc xanh lam quy mô thương mại vận hành.
Gỡ điểm nghẽn để dự án đi vào thực tế
Phát biểu tại hội thảo ông Juhern Kim, Trưởng đại diện Quốc gia GGGI tại Việt Nam cho rằng, hydrogen sạch hiện chưa có tính khả thi thương mại tại Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam không thể chờ đến khi thị trường hoàn thiện mới bắt đầu triển khai.
Theo ông Juhern Kim, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm các dự án để đánh giá tính khả thi và chuẩn bị cho giai đoạn thị trường phát triển. Một dự án hydrogen sạch không thể chỉ giải quyết bài toán công nghệ. Dự án cần đồng thời có công nghệ sẵn sàng, chính sách phù hợp và khách hàng cam kết mua sản phẩm.
“Dù sản xuất hydrogen sạch tại Việt Nam, vẫn cần tìm được người mua”, ông Kim nhấn mạnh.
Ông Juhern Kim, Trưởng đại diện Quốc gia GGGI tại Việt Nam.
Theo đại diện GGGI, khi chưa có đầu ra và dòng tiền đủ chắc chắn, dự án sẽ khó tiếp cận nguồn vốn thương mại dài hạn. Bài toán chi phí cũng đang đặt ra thách thức. Chi phí điện đầu vào chiếm khoảng 60 - 70% chi phí sản xuất hydrogen quy dẫn bằng công nghệ điện phân.
Tình trạng tắc nghẽn truyền tải tại một số khu vực giàu tiềm năng năng lượng tái tạo cũng ảnh hưởng đến khả năng phát triển dự án. Trong khi đó, hạ tầng chuyên dụng cho hydrogen hiện mới ở giai đoạn thí điểm và mức độ sẵn sàng giữa các công nghệ còn khác nhau.
Khả năng tham gia của doanh nghiệp cũng chưa tương xứng với sự quan tâm. Hơn 58% doanh nghiệp đánh giá hydrogen là lĩnh vực quan trọng nhưng 68% chưa có hoạt động đáng kể. Thiếu cơ chế bao tiêu, công cụ hỗ trợ giá và nguồn vốn dài hạn là những nguyên nhân đáng chú ý.
Về thể chế, quản lý nhà nước về hydrogen còn phân tán giữa nhiều bộ, ngành. Thời gian xử lý thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp phép một dự án hydrogen công nghiệp hiện dao động từ 12 - 36 tháng. Những yếu tố này khiến quá trình chuyển từ tiềm năng, nghiên cứu sang các dự án có khả năng đầu tư và vận hành thương mại còn gặp nhiều trở ngại.
Ông Juhern Kim cho biết, phát triển hydrogen cần sự tham gia đồng thời của nhà phát triển dự án, nhà đầu tư, khách hàng sử dụng, đơn vị công nghệ và các đối tác quốc tế. Với một lĩnh vực mới, việc thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh mô hình là cần thiết để từng bước hình thành thị trường.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, các nhóm hành động được đề xuất tập trung vào hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế cấp phép một cửa, tăng điều phối liên ngành, tạo cầu thị trường, xây dựng công cụ tài chính và hệ thống chứng nhận xuất xứ. Cùng với đó là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hỗ trợ các dự án ưu tiên, đầu tư hạ tầng dùng chung và tăng cường hợp tác quốc tế.
PGS.TS Phạm Hoàng Lương phát biểu tại hội thảo.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Phạm Hoàng Lương cho rằng, cần triển khai lộ trình phát triển hydrogen sạch theo từng giai đoạn, gắn mục tiêu hình thành thị trường với mức độ sẵn sàng của dự án, hạ tầng và nhu cầu tiêu thụ.
Trong giai đoạn 2026 - 2028, trọng tâm là xây dựng nền tảng thông qua các dự án thí điểm và trình diễn. Theo đó, cần hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và xúc tiến đầu tư cho các dự án tiềm năng, ưu tiên mô hình kết hợp sản xuất năng lượng tái tạo với tiêu thụ hydrogen tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển và rủi ro thị trường.
Cùng với đó, cần sớm thiết lập các cơ chế ưu đãi đầu tư, ban hành quy chuẩn kỹ thuật, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và thí điểm hợp đồng bao tiêu. Việc huy động ODA, nguồn vốn ưu đãi và vốn JETP cho giai đoạn chuẩn bị dự án cũng cần được đẩy mạnh, đồng thời khởi động các đối tác chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và Australia.
Giai đoạn 2028 - 2040 cần chuyển sang mở rộng quy mô thị trường, tập trung hoàn thiện lưới điện, hệ thống lưu trữ, logistics chuyên dụng và các trung tâm hydrogen công nghiệp. Cùng với đó là các cơ chế kích hoạt nhu cầu, chuẩn hóa cấu trúc hợp đồng và phát triển chuỗi cung ứng thiết bị trong nước.
Về dài hạn, giai đoạn 2040 - 2050 hướng tới hình thành các hành lang xuất khẩu hydrogen, amoniac và methanol sạch, mở rộng ứng dụng sang các ngành phát thải lớn và giao thông vận tải. Khi thị trường trưởng thành, các cơ chế cạnh tranh sẽ từng bước thay thế sự phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước.
Theo PGS.TS Phạm Hoàng Lương, ba giai đoạn cần hướng tới mục tiêu hình thành thị trường hydrogen sạch có sức cạnh tranh, đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và tạo năng lực xuất khẩu trong khu vực.
Từ lợi thế về năng lượng tái tạo và nhu cầu sử dụng hydrogen hiện hữu, Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển một thị trường mới. Tuy nhiên, để tiềm năng trở thành dự án, bài toán đầu ra, vốn, hạ tầng, công nghệ và thể chế cần được giải quyết đồng bộ, với lộ trình cụ thể từ thí điểm đến mở rộng và thương mại hóa.