Vượt mục tiêu giai đoạn đầu, định hình mô hình sản xuất lúa xanh, phát thải thấp
Ngày 27/11/2023, Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”.
Đây được đánh giá là chủ trương đúng đắn, phù hợp với định hướng lớn của Đảng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW và Nghị quyết số 13-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái, tăng trưởng xanh và thích ứng biến đổi khí hậu. Thực tiễn triển khai bước đầu đã cho thấy quyết định này không chỉ góp phần nâng cao giá trị hạt gạo mà còn tạo nền tảng quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp bền vững, hiện đại trong giai đoạn mới.
Sau hơn hai năm triển khai, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ vượt xa mục tiêu giai đoạn đầu mà còn từng bước định hình mô hình sản xuất lúa gạo theo hướng xanh, hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu. Những kết quả bước đầu đã khẳng định hướng đi đúng đắn trong tái cơ cấu ngành lúa gạo, đồng thời mở ra triển vọng nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao giúp định hình mô hình sản xuất “xanh” cho Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Hồng Bỉnh Hiếu.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích lúa chất lượng cao, phát thải thấp đến nay đạt hơn 354.000 ha, tương đương 197% kế hoạch giai đoạn 2024–2025. Đây là con số cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư duy sản xuất của nông dân và địa phương, từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, giảm phát thải và phát triển bền vững.
Các mô hình thí điểm tại nhiều địa phương trong vùng ghi nhận hiệu quả rõ rệt. Việc áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến như “1 phải, 5 giảm”, tưới ngập khô xen kẽ đã giúp giảm lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới. Nhờ đó, năng suất tăng bình quân từ 10–12%, lợi nhuận tăng khoảng 6 triệu đồng/ha/vụ, đồng thời giảm đáng kể phát thải khí nhà kính.
Toàn bộ diện tích tham gia đề án đều sử dụng giống lúa chất lượng cao và áp dụng quy trình sản xuất bền vững. Đến nay, có gần 7.500 ha đạt chứng nhận VietGAP, 246 ha sản xuất theo hướng hữu cơ và hơn 5.600 ha đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm. Tổng nguồn lực huy động cho đề án đạt trên 3.200 tỷ đồng, chủ yếu từ tín dụng và doanh nghiệp, cho thấy sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân trong phát triển nông nghiệp bền vững.
Một điểm đáng chú ý là cơ giới hóa trong sản xuất lúa đã được đẩy mạnh. Hiện nay, 100% khâu làm đất, gieo sạ và thu hoạch đã được cơ giới hóa; trên 40% khâu bón phân và khoảng 90% khâu phun thuốc được thực hiện bằng thiết bị bay không người lái. Khoảng 70% lượng rơm sau thu hoạch được tái sử dụng, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.
Đặc biệt, việc xây dựng thương hiệu gạo xanh đang từng bước được hình thành. Nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” đã được triển khai trên diện tích hơn 18.000 ha, với sản lượng trên 75.000 tấn, trong đó khoảng 500 tấn đã được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, một trong những thị trường có yêu cầu khắt khe về chất lượng và tiêu chuẩn môi trường.
Đánh giá về kết quả triển khai đề án, ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định: Đề án khẳng định tính đúng đắn và đạt nhiều kết quả bước đầu. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng, sản xuất xanh, phát thải thấp trở thành xu thế tất yếu, góp phần thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp bền vững.
Ở cấp ngành, lãnh đạo địa phương đánh giá việc thay đổi kỹ thuật canh tác là yếu tố then chốt giúp nâng cao hiệu quả sản xuất.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ, cho biết: Thành phố đã xây dựng các mô hình thí điểm và nhân rộng, phát triển mô hình tại các vùng triển khai Đề án. Kết quả, có 100% diện tích lúa trong mô hình sử dụng giống lúa chất lượng cao, các mô hình giảm 30-50% lượng giống gieo sạ, giảm 30% lượng phân đạm và 2-3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật…
Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn khẳng định: Thành công lớn nhất của Đề án này là đem lại lợi ích to lớn cho nông dân thông qua các giải pháp về chuyển giao khoa học kỹ thuật như giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, qua đó giảm chi phí đầu vào trong sản xuất lúa, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh, tăng lợi nhuận và hiệu quả đầu ra cho nông dân. Đồng thời kiểm soát dịch hại, nâng cao chất lượng hạt gạo để đưa vào thị trường khó tính, thị trường cao cấp. Bên cạnh đó, hướng tới canh tác giảm phát thải, tăng trưởng xanh theo xu hướng thế giới, dễ tiêu thụ tại các nước đòi hỏi gạo cao cấp.
Ở góc độ người sản xuất, nông dân là những người cảm nhận rõ nhất hiệu quả của đề án. Việc áp dụng kỹ thuật canh tác mới đã giúp họ giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất và ổn định thu nhập.
Ông Trần Văn Hai, thành viên Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Bình Thành (xã Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) cho biết, vụ thu đông vừa qua, ông sản xuất 1 ha lúa theo mô hình chất lượng cao, phát thải thấp. Việc sản xuất có sự thay đổi rõ rệt trong phương pháp, kỹ thuật canh tác nhờ được tập huấn, hướng dẫn theo quy trình. Ông Hai khẳng định, việc áp dụng các kỹ thuật mới giúp giảm chi phí đầu vào. Đồng thời, nâng cao năng suất và chất lượng so với các vụ trước, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập.
Liên kết sản xuất mở rộng, tạo động lực nâng giá trị hạt gạo
Một trong những kết quả quan trọng của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao là thúc đẩy liên kết sản xuất giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Việc hình thành các chuỗi liên kết đã giúp nông dân ổn định đầu ra, giảm rủi ro thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện đã có khoảng 600 hợp tác xã và tổ hợp tác liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, với diện tích liên kết chiếm khoảng 65% tổng diện tích đã triển khai đề án. Đây là con số vượt kỳ vọng ban đầu, cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình triển khai đề án vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt là về hạ tầng và tổ chức sản xuất.
Ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Quá trình triển khai vẫn còn khó khăn, một số địa phương lúng túng; hạ tầng thủy lợi, nhất là nội đồng, chưa đáp ứng; liên kết sản xuất chưa phổ biến; một bộ phận người dân còn trông chờ hỗ trợ; tiến độ giải ngân, đặc biệt vốn vay quốc tế còn chậm.
Thời gian tới, cần nâng cao nhận thức, tạo đồng thuận; hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hợp tác xã; tháo gỡ điểm nghẽn về thủy lợi, logistics; phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam và nhân rộng mô hình hiệu quả, hướng tới ngành lúa gạo bền vững, hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh.
"Đã có 600 hợp tác xã và tổ hợp tác đã liên kết được với các doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, diện tích liên kết chiếm 65% trong tổng diện tích đã triển khai. Có thể đây là một kết quả rất lớn mà chúng ta không dự đoán được. Tuy nhiên, việc triển khai đề án vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Một là việc triển khai đề án ở một số địa phương còn chậm, lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện. Hai là hạ tầng thủy lợi, đặc biệt là thủy lợi nội đồng còn chưa đáp ứng được yêu cầu của đề án", Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết thêm.
Từ thực tế triển khai tại các địa phương, có thể thấy Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam. Khi mà thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu cao về chất lượng và tiêu chuẩn môi trường, việc phát triển các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp được xem là nền tảng quan trọng để ngành lúa gạo Việt Nam phát triển bền vững trong dài hạn.




