EVN: Gìn giữ môi trường nhà máy thủy điện

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ và gìn giữ môi trường cho các khu vực nhường đất làm thủy điện, từ nhiều năm qua, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã có nhiều nỗ lực trồng bù rừng thay thế và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Khu vực rừng thuộc diện trồng bù

Trồng bù rừng thay thế

Theo báo cáo của EVN, hiện đơn vị có 19 dự án thủy điện trên khắp cả nước phải thực hiện trồng bù rừng theo quy định tại Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 6/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy định trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác và gần đây nhất là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 18/2/2014 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 62/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện.

Ông Hồ Sỹ Bảo - Phó Trưởng ban Quản lý xây dựng (EVN) - cho biết, tổng số diện tích rừng EVN phải trồng là hơn 12.596ha với tổng số tiền là 760,182 tỷ đồng. Trong đó, đơn vị đã hoàn thành nghĩa vụ trồng bù rừng thay thế của 9 dự án thủy điện bao gồm các thủy điện Bản Vẽ, A Vương, Sông Ba Hạ, An Khe-Ka Nak, Sê San 4, Sông Bung 4, Buôn Tuasra, Thượng Kon Tum, Đa Nhim mở rộng. Bên cạnh đó, có 10 dự án đang trong giai đoạn trồng và chăm nuôi bao gồm thủy điện Sơn La, Lai Châu, Hội Quảng, Bản Chát, Tuyên Quang, Sông Bung 2, Sông Tranh 2, Trung Sơn và Đồng Nai 3 và 4.

Việc triển khai trồng bù rừng được thực hiện theo phương thức là chủ đầu tư thủy điện chuyển tiền về tài khoản của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của các địa phương theo 2 đợt để địa phương tổ chức trồng bù. Cho đến nay, EVN đã chỉ đạo các đơn vị chuyển xong 472,917/760,182 tỷ đồng đợt 1 để các địa phương triển khai trồng và chăm sóc năm thứ nhất cho tổng số diện tích nêu trên.

Trong năm 2016 và năm 2017, EVN sẽ tiếp tục chuyển tiền về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh để các địa phương tiếp tục chăm sóc các năm tiếp theo, theo kế hoạch thực hiện của địa phương.

Chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng

Theo ông Bảo, ngoài việc trồng bù rừng đã mất, các nhà máy thủy điện của EVN còn thực hiện chi trả phí dịch vụ môi trường rừng với số tiền hàng trăm tỷ đồng mỗi năm nhằm bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Đây cũng là những nội dung theo quy định của Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ quy định. Theo đó giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: Bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các-bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác.

Việc chi trả phí dịch vụ môi trường rừng được thực hiện gián tiếp, trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam hoặc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Như vậy, tính đến nay EVN đã chi trả phí dịch vụ môi trường rừng qua các tổ chức là khoảng 4.290,441 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Văn Lô - Trưởng ban Chuẩn bị đầu tư Công ty CP Thủy điện A Vương - cho biết, việc trồng bù rừng thay thế cho phần đất lấy làm thủy điện và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tính theo kWh điện là một chủ trương hết sức đúng đắn và đơn vị luôn nghiêm túc thực hiện.

Trong thời gian tới, EVN sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, địa phương liên quan nhằm triển khai có hiệu quả công tác trồng bù rừng thay thế theo đúng phương án, kế hoạch đã được phê duyệt; đồng thời chỉ đạo các thủy điện nghiêm túc thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Vũ Sơn