Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ tư 28/07/2021 05:35

EPR - lời giải cho bài toán xử lý rác thải rắn - Kỳ III: Cơ hội và thách thức

10:05 | 15/07/2021
EPR được kỳ vọng là công cụ quản lý chất thải rắn hữu hiệu ở Việt Nam, không chỉ giúp kích hoạt nền kinh tế tuần hoàn mà còn thúc đẩy ngành công nghiệp môi trường phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những thách thức, EPR cũng mang lại cơ hội thực sự để tạo thêm nhiều việc làm cũng như lợi ích kinh tế, môi trường lớn.

Sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên

Khi cơ chế EPR được vận hành, sẽ tạo ra cơ hội mới cho các lĩnh vực con trong ngành công nghiệp môi trường như: Thiết kế công nghiệp giúp các sản phẩm thân thiện môi trường hơn; sản xuất, nghiên cứu, ứng dụng vật liệu, giải pháp mới thân thiện môi trường; phát triển các công nghệ giúp thu gom, vận chuyển, xử lý… Cùng với đó, các nhóm dịch vụ để vận hành EPR cũng được hình thành như: Nhóm tư vấn công nghiệp để hỗ trợ vận hành, kiểm toán môi trường; nhóm truyền thông xanh, xây dựng thương hiệu…

EPR - lời giải cho bài toán xử lý rác thải rắn - Kỳ III: Cơ hội và thách thức

Hoạt động thu gom, phân loại rác, tái chế sẽ ngày càng hoàn thiện nhờ EPR

Kinh nghiệm tại Hàn Quốc cho thấy, trong giai đoạn 2003 - 2016, EPR đã giúp Hàn Quốc đạt được tỷ lệ tái chế lên đến 72% trong tổng sản lượng tái chế; doanh nghiệp thực hiện tái chế tăng lên và cùng với đó, 9.769 công việc đã được tạo ra. Tại Nam Phi, EPR được thực thi từ năm 2004, giúp quốc gia này hình thành nên mạng lưới thu gom, tái chế tập trung vào thu gom tái chế chai nhựa PET và đã có 34 PETCO được thành lập PETCO hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp tái chế, phát triển thị trường PET tái chế, đào tạo lao động thu gom và đẩy mạnh nâng cao nhận thức. Các PETCO đã thành công trong việc gia tăng tái chế PET từ 9.840 tấn (16%) năm 2005 lên 98.649 tấn (63%) năm 2018… Trong khi đó, tại Đài Loan, nhiều tổ chức từ thiện đứng ra thu gom để gây quỹ cho hoạt động của mình, điều này có nghĩa, EPR khuyến khích nhiều đối tượng tham gia do lợi ích nó mang lại.

Đặc biệt, EPR giúp các doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô và nâng cao sức cạnh tranh của nguyên liệu thô thứ cấp. Hơn nữa, EPR đối với bao bì có thể làm tăng tỷ lệ thu gom rác thải đã phân loại và tái chế cũng như tăng chất lượng nguyên liệu tái chế. “Nó sẽ tạo ra khung hoạt động đảm bảo kinh doanh cho các cơ sở tái chế hoặc hình thức xử lý khác, ví dụ như đốt rác đồng thời trong lò nung xi măng; tuân thủ những chuẩn mực cao về mặt môi trường, công nghệ; đảm bảo sức khỏe, an toàn và điều kiện làm việc” - TS. Nguyễn Đình Trọng - Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam - chia sẻ.

Thách thức thực hiện EPR?

Theo bà Nguyễn Hoàng Phượng - Chuyên gia tư vấn chính sách - Pháp luật của E-Policy - A Boutique Consulting Firm, EPR muốn vận hành, phải giải quyết được khối phi chính thức mà chủ yếu là nhóm thu gom, nhóm phân tách (bãi phế liệu) và nhóm tái chế (làng nghề). Đối với thu gom và phân tách, đây là nhóm có đóng góp tốt và hoạt động hiệu quả hơn so với hệ thống chính thức do liên quan đến sinh kế của họ. Trong tương lai, doanh nghiệp nên ký hợp đồng với nhóm này hoặc các nhóm cũng có thể chính thức hóa để hoạt động thông qua hình thành một tổ chức PRO. TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đầu tiên vì địa phương này đã có mô hình tổ phân rác có thể chuyển đổi thành hợp tác xã.

Là một trong những quốc gia có lượng rác thải nhựa thải ra đại dương lớn nhất thế giới, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc khi EPR cũng là một phần của Khung hành động ASEAN về rác thải đại dương 2019.

Trong lĩnh vực bao bì, EPR không thể giải quyết được tất cả các vấn đề trong xử lý chất thải sinh hoạt rắn ở Việt Nam hiện nay bởi theo tính toán, sẽ có khoảng 15% dân thành thị và 50 - 60% nông thôn không được tiếp cận dịch vụ thu gom rác. Bên cạnh đó, chính sách EPR đối với bao bì chỉ tập trung vào rác thải bao bì trong khi chất thải sinh hoạt rắn nói chung cũng cần được chính quyền địa phương tổ chức thu gom hiệu quả.

Ông Phạm Văn Đức - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội - cho biết, chúng ta đang gặp khó khăn về cơ sở hạ tầng thu gom rác thải, đặc biệt là rác thải sinh hoạt. Rác thải rắn sinh hoạt chưa được phân loại, người dân, các chủ nguồn thải không quan tâm đến việc thải bỏ, vẫn duy trì thói quen cố hữu bỏ rác không theo thời gian, địa điểm quy định. Quan trọng hơn cả, để phát triển cơ chế EPR, cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng, cũng như thường xuyên tham vấn các bên có liên quan trong khối tư nhân. Nếu không đảm bảo mối tương tác với khối tư nhân, có thể không triển khai được khung pháp lý và không đạt được mục tiêu.

Thu Hường