Longform
17/10/2026 18:59
Công Thương 57

E-magazine | TKV: Phát triển công nghệ chiến lược, gia tăng sức cạnh tranh

Thứ Bảy, 17/10/2026 18:59:56 +07:00

(Công Thương) - TKV xác định phát triển công nghệ chiến lược vừa là nhiệm vụ, vừa là cơ hội để nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và sức cạnh tranh của Tập đoàn.

E-magazine | TKV: Phát triển công nghệ chiến lược, gia tăng sức cạnh tranh  - 1

Đối với ngành công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam, phát triển công nghệ chiến lược có ý nghĩa thiết thực trong nâng cao năng lực khai thác, chế biến và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Việc làm chủ và ứng dụng các công nghệ tiên tiến còn góp phần củng cố năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của ngành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Tại Hội nghị phổ biến và tổ chức triển khai phát triển công nghệ chiến lược ngành Công Thương diễn ra mới đây, ông Phan Xuân Thủy, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, thực hiện Quyết định số 2159/QĐ-BCT ngày 4/9/2026 của Bộ Công Thương, TKV được giao tham gia phát triển 19 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc 2 bài toán lớn: Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ; tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao. Trong đó, TKV chủ trì phát triển 18 sản phẩm và là đơn vị ứng dụng 1 sản phẩm.

Đây là cơ hội để TKV đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu - phát triển và từng bước làm chủ các công nghệ cốt lõi trong các lĩnh vực than, khoáng sản, điện lực, hóa chất và cơ khí. Thông qua việc triển khai các nhiệm vụ, TKV có điều kiện tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp công nghệ, huy động và tập trung nguồn lực để giải quyết những bài toán công nghệ lớn phát sinh từ thực tiễn sản xuất.

Phát triển công nghệ chiến lược sẽ tạo điều kiện để TKV nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào công nghệ và thiết bị nhập khẩu

Phát triển công nghệ chiến lược sẽ tạo điều kiện để TKV nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào công nghệ và thiết bị nhập khẩu

Đồng thời, việc phát triển các công nghệ chiến lược sẽ tạo điều kiện để TKV nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị, giảm phụ thuộc vào công nghệ và thiết bị nhập khẩu; thúc đẩy cơ giới hóa, tự động hóa, chuyển đổi số, sản xuất xanh và thông minh; nâng cao năng suất, an toàn lao động, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, giảm phát thải và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Đặc biệt, với quy mô sản xuất lớn, hệ thống các mỏ, nhà máy và cơ sở sản xuất tương đối đầy đủ trong các lĩnh vực than - khoáng sản - điện - hóa chất - cơ khí.

TKV có lợi thế vừa là đơn vị tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ, vừa là địa chỉ thử nghiệm, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ trong điều kiện sản xuất thực tế. Đây là điều kiện thuận lợi để rút ngắn quá trình từ nghiên cứu đến ứng dụng, từng bước hình thành các sản phẩm công nghệ có khả năng nhân rộng trong Tập đoàn và ngành Công Thương.

“Chính phủ, Bộ Công Thương đã quan tâm, định hướng và giao nhiệm vụ cho Tập đoàn tham gia phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược. TKV xác định đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức, đòi hỏi Tập đoàn phải tập trung nguồn lực, tăng cường hợp tác và tổ chức triển khai đồng bộ để từng bước làm chủ công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của ngành Công Thương và của đất nước” - ông Phan Xuân Thủy nói.

E-magazine | TKV: Phát triển công nghệ chiến lược, gia tăng sức cạnh tranh  - 3

Về kế hoạch triển khai, ngày 23/9/2026, TKV đã ban hành Văn bản số 6625/TKV-KCL để tổ chức triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược; trong đó, phân công các ban chuyên môn, viện nghiên cứu và đơn vị sản xuất phối hợp với các trường đại học, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài Tập đoàn xây dựng, đề xuất các nhiệm vụ cụ thể.

Trên cơ sở nhiệm vụ được Bộ Công Thương giao, TKV đã rà soát danh mục công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược; căn cứ chức năng, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và nhu cầu thực tiễn của Tập đoàn để bước đầu xác định các nhóm nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026-2030.

Việc xây dựng nhiệm vụ được định hướng theo 5 nguyên tắc: Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của TKV; xác định rõ công nghệ cần nghiên cứu, phát triển, tiếp nhận và làm chủ; gắn nhiệm vụ với sản phẩm đầu ra, địa điểm thử nghiệm và địa chỉ ứng dụng cụ thể; kết hợp nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, chuyển giao và nội địa hóa công nghệ; ưu tiên các nhiệm vụ có khả năng hình thành sản phẩm, thiết bị, dây chuyền, hệ thống hoặc giải pháp công nghệ có thể thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng trong thực tế sản xuất.

Trên cơ sở đó, TKV tập trung xây dựng nhiệm vụ thuộc 2 bài toán lớn theo 5 nhóm công nghệ trọng tâm. Trong đó, bài toán 1: Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ gồm: Nhóm 1: Số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), bản sao số (Digital Twin) và sản xuất thông minh: Nghiên cứu, xây dựng bản sao số cho mỏ, nhà máy điện và các dây chuyền sản xuất; AI chuyên ngành; nền tảng dữ liệu công nghiệp và loT; bảo trì dự báo; tối ưu hóa năng lượng; tích hợp ERP-MES-SCM-CRM-BI/AI, phục vụ quản trị và điều hành sản xuất theo thời gian thực.

Nhóm 2: Công nghệ năng lượng và môi trường: Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng hydro tự nhiên (hydro trắng), khí hydrate (gas hydrate); công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) và các giải pháp công nghệ giảm phát thải.

TKV có lợi thế vừa là đơn vị tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ, vừa là địa chỉ thử nghiệm, ứng dụng công nghệ trong điều kiện sản xuất thực tế

TKV có lợi thế vừa là đơn vị tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ, vừa là địa chỉ thử nghiệm, ứng dụng công nghệ trong điều kiện sản xuất thực tế

Bài toán 2: Tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao gồm: Nhóm 3: Robot và phương tiện tự hành: Nghiên cứu, thiết kế và ứng dụng robot cắt, đào than; robot giám sát an toàn mỏ; robot kiểm tra, bảo trì, sửa chữa; robot công nghiệp; AMR/AGV và các phương tiện tự hành phục vụ vận chuyển than, khoáng sản và vật tư.

Nhóm 4: Vật liệu, cơ khí và sản phẩm công nghiệp: Nghiên cứu, chế tạo thép ray, thép vì chống; alumin, hydrat chất lượng cao; nhôm, hợp kim nhôm và sản phẩm nhôm định hình; vật liệu gốm oxít tinh khiết cao; công nghệ thu hồi kim loại có ích từ phụ phẩm/bùn đỏ quá trình sản xuất.

Nhóm 5: Chế biến sâu khoáng sản, đất hiếm và luyện kim: Nghiên cứu công nghệ số hóa quá trình tuyển, luyện kim; chế biến sâu bauxit - alumin - nhôm, đồng, titan và đất hiếm; công nghệ thủy luyện, tách chiết, tinh chế oxit đất hiếm; thu hồi kim loại có ích, xử lý và tái sử dụng bùn đỏ, phụ phẩm.

Về tiến độ triển khai: TKV đang khẩn trương tổ chức rà soát, cụ thể hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược được giao thành các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ, đề án, chương trình phù hợp với nhu cầu thực tiễn và năng lực của Tập đoàn; đồng thời phân kỳ triển khai theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 2026-2027: Ưu tiên các nhiệm vụ có thể sớm triển khai, trước mắt tập trung nghiên cứu như: Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu phục vụ mô hình thị giác máy tính trong nhận diện và giám sát sản xuất than, phát triển bản sao số cho mỏ, nhà máy điện và dây chuyền sản xuất; đánh giá tiềm năng hydro tự nhiên và khí hydrate; giai đoạn 2028-2030: Triển khai các nhiệm vụ còn lại theo tiến độ được xác định tại Quyết định số 2159/QĐ-BCТ.

TKV xác định doanh nghiệp sản xuất là trung tâm của quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ, tham gia xuyên suốt từ xác định bài toán, đề xuất nhu cầu, đặt hàng nghiên cứu đến phối hợp nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá, tiếp nhận và nhân rộng kết quả.

Qua đó, từng bước hình thành hệ sinh thái liên kết “doanh nghiệp sản xuất - viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp công nghệ”, gắn hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ với nhu cầu thực tiễn, nâng cao năng lực tự chủ, nội địa hóa và khả năng làm chủ các công nghệ chiến lược phục vụ sản xuất, kinh doanh của TKV.

E-magazine | TKV: Phát triển công nghệ chiến lược, gia tăng sức cạnh tranh  - 5

Bước đầu triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, TKV nhận thấy có một số khó khăn, vướng mắc chủ yếu sau: Yêu cầu về trình độ công nghệ và mức độ làm chủ công nghệ cao. Nhiều sản phẩm được giao thuộc các lĩnh vực công nghệ mới, phức tạp như Al chuyên ngành, Digital Twin, robot và phương tiện tự hành, CCUS, hydro trắng, gas hydrate, vật liệu hiệu năng cao và chế biến sâu khoáng sản. Trong khi đó, năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và tích hợp đồng bộ một số công nghệ trong nước còn hạn chế, một số công nghệ, thiết bị và phần mềm lõi vẫn cần hợp tác, tiếp nhận hoặc chuyển giao từ nước ngoài.

Bên cạnh đó, khoảng cách từ nghiên cứu đến sản phẩm công nghệ có khả năng ứng dụng thực tế còn lớn: Các nhiệm vụ không chỉ dừng ở nghiên cứu mà phải hình thành sản phẩm, thiết bị, dây chuyền hoặc hệ thống công nghệ có khả năng kiểm thử, thử nghiệm tại hiện trường và tiến tới làm chủ, nhân rộng. Điều này đòi hỏi quá trình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ liên tục, với thời gian và nguồn lực lớn.

Điều kiện thử nghiệm và ứng dụng công nghệ có tính đặc thù, yêu cầu cao về an toàn và độ tin cậy: Các công nghệ được triển khai trực tiếp tại mỏ hầm lò, mỏ lộ thiên, nhà máy tuyển - luyện, alumin, hóa chất và nhà máy điện; do đó, công nghệ mới phải đáp ứng đồng thời yêu cầu về an toàn, ổn định sản xuất, môi trường và khả năng tích hợp với hệ thống thiết bị, công nghệ hiện hữu.

Nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, thử nghiệm và làm chủ công nghệ lớn: Nhiều nhiệm vụ cần triển khai từ nghiên cứu, thiết kế đến chế tạo pilot, thứ nghiệm và hoàn thiện ở quy mô công nghiệp; việc kết hợp nguồn Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, ngân sách nhà nước và vốn đối ứng cần được thực hiện đồng bộ, phù hợp với tính chất và tiến độ của từng nhiệm vụ.

Mặt khác, nguồn nhân lực công nghệ chuyên sâu và cơ chế phối hợp còn là thách thức: Việc triển khai nhiều công nghệ liên ngành đòi hỏi đội ngũ chuyên gia có năng lực về công nghệ mỏ, cơ khí, tự động hóa, AI, dữ liệu, vật liệu, luyện kim, năng lượng và môi trường; đồng thời cần cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp sản xuất, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước.

Một số cơ chế, tiêu chuẩn và hành lang pháp lý cho công nghệ mới chưa hoàn thiện: Đối với các lĩnh vực mới như AI, Digital Twin, phương tiện tự hành, CCUS, hydro trắng, gas hydrate... việc triển khai từ nghiên cứu sang thử nghiệm và ứng dụng quy mô công nghiệp cần tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế thử nghiệm, đánh giá, nghiệm thu và cơ chế hỗ trợ tiếp nhận, chuyển giao công nghệ.

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Ngoài ra, áp lực về tiến độ triển khai: TKV phải đồng thời cụ thể hóa 19 sản phẩm công nghệ chiến lược thành các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ; xác định công nghệ cần làm chủ, sản phẩm đầu ra, đơn vị chủ trì, hiện trường thừ nghiệm, đối tác và nguồn lực thực hiện, trong khi nhiều nhiệm vụ có tính mới, liên ngành và cần thời gian chuẩn bị, đánh giá công nghệ trước khi tổ chức triển khai. TKV mong muốn phối hợp với các viện, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ để triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Để tạo điều kiện cho TKV và các doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược giai đoạn 2026-2030, TKV đề nghị Chính phủ, Bộ Công Thương và các bộ, ngành liên quan quan tâm sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với các công nghệ mới; nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với những công nghệ chưa có đầy đủ hành lang pháp lý, tạo điều kiện để doanh nghiệp triển khai thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện công nghệ trong thực tế.

Cùng với đó, có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp chủ trì nhiệm vụ công nghệ chiến lược trong nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ công nghệ lõi; hỗ trợ kết nối với các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và chuyên gia hàng đầu trong nước, quốc tế, nhất là đối với những công nghệ Việt Nam chưa làm chủ.

Ưu tiên bố trí và có cơ chế huy động, sử dụng linh hoạt nguồn lực tài chính cho các nhiệm vụ công nghệ chiến lược; đặc biệt đối với các nhiệm vụ cần đầu tư thiết bị nghiên cứu, dây chuyền pilot, thử nghiệm ở quy mô công nghiệp và có mức độ rủi ro công nghệ cao.

Đồng thời, có cơ chế khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất tham gia từ khâu đặt hàng, nghiên cứu, thử nghiệm đến tiếp nhận và nhân rộng công nghệ; có chính sách hỗ trợ thương mại hóa, đặt hàng và sử dụng các sản phẩm công nghệ chiến lược được nghiên cứu, chế tạo thành công trong nước.

Bộ Công Thương tiếp tục làm đầu mối kết nối các tập đoàn, tổng công ty với viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước; hình thành các cụm nhiệm vụ theo chuỗi giá trị và các địa chỉ thử nghiệm, trình diễn công nghệ ở quy mô công nghiệp, tránh đầu tư nghiên cứu phân tán, trùng lặp.

TKV xác định phát triển công nghệ chiến lược vừa là nhiệm vụ, vừa là cơ hội để nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và sức cạnh tranh của Tập đoàn. TKV sẽ chủ động bố trí nguồn lực; lựa chọn các bài toán thực tiễn có tính cấp thiết và khả năng ứng dụng cao; bố trí hiện trường thử nghiệm; tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước để từng bước làm chủ, ứng dụng và nhân rộng các công nghệ phù hợp với thực tiễn sản xuất.

E-magazine | TKV: Phát triển công nghệ chiến lược, gia tăng sức cạnh tranh  - 7

Có thể bạn quan tâm