Longform
18/10/2026 20:46
Công Thương 57

E-magazine | EVN: Phát triển công nghệ chiến lược gắn trực tiếp với bài toán của ngành Công Thương

Chủ Nhật, 18/10/2026 20:46:25 +07:00

(Công Thương) - Hiện EVN đang tiếp tục đẩy mạnh các nhiệm vụ đã đề ra theo hướng cụ thể hóa các công nghệ chiến lược thành nhiệm vụ có sản phẩm đầu ra rõ ràng.

 E-magazine | EVN: Phát triển công nghệ chiến lược gắn trực tiếp với bài toán của ngành Công Thương - 1

Thông tin về tình hình triển khai nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ông Đinh Thế Phúc, Thành viên Hội đồng Thành viên EVN cho biết, EVN xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong các công cụ quan trọng để nâng cao năng suất, độ tin cậy cung cấp điện, năng lực tự chủ công nghệ và khả năng thích ứng với chuyển dịch năng lượng.

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, EVN đã ban hành Chương trình hành động số 40-CTr/ĐU ngày 24/2/2025 và Nghị quyết số 65/NQ-HĐTV ngày 27/2/2025. Trên cơ sở đó, tại Văn bản số 2686/EVN-VTCNTT ngày 25/4/2025, EVN đã giao 57 nhiệm vụ thuộc 5 nhóm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đợt 1 năm 2025 cho các đơn vị thành viên.

Việc giao nhiệm vụ được tổ chức theo nguyên tắc mỗi nhiệm vụ có một đơn vị chủ trì; nhiệm vụ có khả năng áp dụng diện rộng được nghiên cứu, thử nghiệm tại đơn vị chủ trì trước khi xem xét nhân rộng, các ban trong EVN theo dõi, đôn đốc và định kỳ báo cáo tiến độ. EVN đồng thời yêu cầu các đơn vị nghiên cứu công nghệ theo hướng hình thành sản phẩm, giải pháp có thể đóng gói và áp dụng chung trong Tập đoàn.

EVN xác định phát triển khoa học, công nghệ là một trong các công cụ quan trọng để nâng cao năng suất, độ tin cậy cung cấp điện.

EVN xác định phát triển khoa học, công nghệ là một trong các công cụ quan trọng để nâng cao năng suất, độ tin cậy cung cấp điện.

Qua rà soát Quyết định số 808/QĐ-TTg và Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định số 2159/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, các nhiệm vụ EVN đang triển khai cơ bản đáp ứng với nhóm công nghệ số, robot và tự động hóa, công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghệ biển - đại dương. Đồng thời, gắn trực tiếp với bài toán của ngành Công Thương về bảo đảm an ninh năng lượng, hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ.

Ông Đinh Thế Phúc cho hay, theo Quyết định số 808/QĐ-TTg, bài toán “bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ" gắn với các sản phẩm như nền tảng bản sao số, AI chuyên ngành, BESS, hydrogen xanh/nhiên liệu sinh học, thiết bị điện cao áp - siêu cao áp và hệ thống truyền tải hiện đại, CCUS, thiết bị - dịch vụ cho năng lượng ngoài khơi. Đây là các hướng có liên hệ trực tiếp với hoạt động của EVN.

Trên cơ sở nhu cầu thực tiễn, EVN tập trung vào 5 nhóm bài toán sau: Một là, lưới điện thông minh, truyền tải công suất lớn và tự chủ công nghệ điều khiển: Nghiên cứu HVDC; tự phát triển hệ thống điều khiển, tự động hóa trạm biến áp và trung tâm điều khiển; thao tác xa trạm 500 kV (cơ bản các trạm 110, 220 kV đã được điều khiển xa); mô phỏng lưới điện theo thời gian thực (RTDS), PMU/WAMS, SCADA/EMS và các công cụ tối ưu vận hành.

EVN đã cơ bản hoàn thành mục tiêu chuyển đổi số theo Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025.

EVN đã cơ bản hoàn thành mục tiêu chuyển đổi số theo Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025.

Hai là, tích trữ năng lượng và tích hợp nguồn năng lượng tái tạo: nghiên cứu, triển khai BESS; xác định vị trí, quy mô tối ưu; tích hợp điều khiển, điều tần, điều áp, vận hành hệ thống và phối hợp với nguồn phân tán hoặc điện mặt trời mái nhà.

Ba là, AI, dữ liệu lớn và bản sao số: Xây dựng kiến trúc dữ liệu, kho dữ liệu dùng chung, nền tảng dữ liệu lớn; ứng dụng AI dự báo phụ tải, dự báo tình trạng thiết bị và bảo trì; AI phân tích hình ảnh, UAV/robot; Digital Twin cho trạm biến áp, thiết bị và công tác đầu tư xây dựng.

Bốn là, làm chủ, nội địa hóa thiết bị điện trọng điểm: từng bước nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và nâng cao chất lượng máy biến áp, kháng điện, TU/TI và các thiết bị điện cao áp - siêu cao áp; nghiên cứu nâng cao hiệu suất, độ tin cậy thiết bị 500 kV và năng lực thử nghiệm, kiểm định.

Năm là, chuyển dịch năng lượng và nguồn điện mới: nghiên cứu chuyển đổi nhiên liệu tại nhà máy nhiệt điện theo hướng sinh khối, ammonia/hydrogen và khả năng áp dụng CCUS; chuẩn bị năng lực kỹ thuật, quản lý dự án, đấu nối và vận hành điện gió ngoài khơi. Các hướng công nghệ mới khác được xem xét theo yêu cầu phát triển hệ thống điện và phân công của cấp có thẩm quyền.

 E-magazine | EVN: Phát triển công nghệ chiến lược gắn trực tiếp với bài toán của ngành Công Thương - 4

Chia sẻ cụ thể một số nhiệm vụ đã và đang triển khai, ông Đinh Thế Phúc nêu, trong giám sát, điều khiển và tự động hóa: EVN giao EVNNPT triển khai thực hiện thao tác xa TBA 500 kV, đến nay đã hoàn thành thí điểm thao tác xa tại 10 trạm 500 kV. Hiện đang chờ ý kiến của NSMO cho phép điều chỉnh quy trình để rút người trực.

Bên cạnh đó, thực hiện nghiên cứu làm chủ hệ thống điều khiển tích hợp trên lưới truyền tải; xây dựng trung tâm giám sát trạm và lưới; nghiên cứu Digital Twin trong hệ thống điện và đầu tư xây dựng. Một số đơn vị triển khai hệ thống giám sát trực tuyến tổ máy, máy biến áp và trung tâm điều khiển xa nhằm giảm phụ thuộc vào phần mềm nước ngoài.

Trong dữ liệu và AI: EVN triển khai hoàn thiện lại kiến trúc dữ liệu và cơ sở dữ liệu dùng chung; nền tảng dữ liệu lớn; kho dữ liệu tại các các đơn vị thành viên; ứng dụng AI dự báo phụ tải, AI phân tích dữ liệu vận hành và hình ảnh để cảnh báo bất thường, hỗ trợ bảo trì; nghiên cứu thiết lập hạ tầng tính toán hiệu năng cao phục vụ phát triển AI.

Trong robot, IoT và UAV: triển khai robot tự hành giám sát trạm biến áp không người trực; UAV kết hợp loT, GIS và AI để kiểm tra lưới điện, công trình thủy điện, tấm quang điện; cơ bản làm chủ IoT Gateway thu thập tín hiệu SCADA.

EVN tích cực ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong quản lý, vận hành.

EVN tích cực ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong quản lý, vận hành.

Trong quản lý kỹ thuật và sản xuất: tiếp tục nâng cấp hệ thống phần mềm quản lý kỹ thuật - PMIS; hoàn thành tin học hóa quản lý sửa chữa theo phương pháp CBM/RCM; hoàn thành xây dựng và ứng dụng Digital Workforce; triển khai các giải pháp giám sát nhiên liệu, thiết bị và tối ưu vận hành nhà máy điện...

Về các nhiệm vụ dự kiến ưu tiên giai đoạn 2026-2030, EVN đã xây dựng và ban hanh định hướng phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, cũng như các định hướng phát triển hệ thống công nghệ thông tin, viễn thông dùng riêng, tự động hóa.

Từ nay đến năm 2030, EVN đặt mục tiêu trở thành đơn vị dẫn đầu trong khu vực Đông Nam Á về khoa học công nghệ, với hệ sinh thái  “điện lực thông minh”, trên cơ sở chuyển từ “doanh nghiệp số” sang “EVN thông minh”. Hiện EVN đang tiếp tục và đẩy mạnh các nhiệm vụ, công việc đã đề ra theo hướng cụ thể hóa các công nghệ chiến lược thành nhiệm vụ có sản phẩm đầu ra rõ ràng, trong đó ưu tiên: HVDC và công nghệ truyền tải hiện đại; BESS; hệ sinh thái dữ liệu - AI - Digital Twin cho hệ thống điện; thiết kế, chế tạo thiết bị điện cao áp, siêu cao áp; chuyển đổi nhiên liệu và giảm phát thải cho nhiệt điện; các giải pháp kỹ thuật phục vụ điện gió ngoài khơi. Việc lựa chọn nhiệm vụ sẽ bám sát nhu cầu sản xuất kinh doanh, khả năng ứng dụng, nhân rộng và lộ trình làm chủ công nghệ, tránh dàn trải.

Đối với các công nghệ lõi, EVN định hướng tăng cường mô hình liên kết giữa doanh nghiệp - viện nghiên cứu - cơ sở giáo dục đại học - doanh nghiệp công nghệ, trong đó EVN và đơn vị thành viên cung cấp bài toán, dữ liệu, môi trường thử nghiệm và nhu cầu ứng dụng; đối tác nghiên cứu tham gia phát triển công nghệ, thiết kế, chế tạo và đào tạo nhân lực.

Nguồn lực thực hiện được huy động từ chi phí hợp pháp của doanh nghiệp, kinh phí khoa học và công nghệ của EVN hoặc đơn vị, nguồn ngân sách nhà nước đối với nhiệm vụ đủ điều kiện và các nguồn hợp tác khác theo quy định. Theo đó, EVN phấn đấu chi phí dành cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo khoảng 0,4% doanh thu và có lực lượng chuyên gia khoa học công nghệ là 12 người/10.000 cán bộ công nhân viên.

 E-magazine | EVN: Phát triển công nghệ chiến lược gắn trực tiếp với bài toán của ngành Công Thương - 6

Ông Đinh Thế Phúc cho rằng, thực tiễn triển khai cho thấy, một số công nghệ chiến lược có hàm lượng R&D cao, chu kỳ nghiên cứu dài, yêu cầu thử nghiệm trên hạ tầng điện đang vận hành và tiềm ẩn rủi ro kỹ thuật. Đối với doanh nghiệp nhà nước, dù pháp luật đã có cơ chế chấp nhận rủi ro trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc phân định rủi ro khách quan được chấp nhận với trách nhiệm trong quản lý vốn nhà nước vẫn cần được cụ thể hóa. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu và triển khai HVDC, BESS, thiết bị điện công nghệ cao và công nghệ nguồn điện mới.

Đồng thời, việc thử nghiệm, định giá và mua sắm lần đầu sản phẩm khoa học và công nghệ còn khó khăn do sản phẩm mới thường chưa có giá tham chiếu, lịch sử thương mại hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật đầy đủ; nguồn nhân lực chuyên sâu về các công nghệ lõi cũng còn thiếu.

EVN đặt mục tiêu trở thành đơn vị dẫn đầu trong khu vực Đông Nam Á về khoa học công nghệ.

EVN đặt mục tiêu trở thành đơn vị dẫn đầu trong khu vực Đông Nam Á về khoa học công nghệ.

Vì vậy, EVN kiến nghị Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan nghiên cứu để cụ thể hóa cơ chế quản trị, tiêu chí đánh giá chấp nhận rủi ro đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, ban hành cơ chế đặt hàng và sử dụng ngân sách nhà nước đối với nhiệm vụ công nghệ chiến lược do doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện.

Hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ mới trên hệ thống điện theo các cấp độ từ mô phỏng, phòng thí nghiệm, kiểm định độc lập, thử nghiệm hạn chế đến thử nghiệm thực tế. Nghiên cứu cơ chế tạo nguồn ổn định và cho phép tập trung, cùng đóng góp để thực hiện các chương trình R&D chung, dự án trọng điểm, phát triển công nghệ chiến lược.

Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế mua sắm, sử dụng sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu (ví dụ sản phẩm đã đưa vào sử dụng để đánh giá); đánh giá hiệu quả không chỉ theo giá mua mà cả chi phí vòng đời, mức độ làm chủ công nghệ, nội địa hóa, khả năng bảo trì - sửa chữa và đóng góp cho an ninh năng lượng.

 E-magazine | EVN: Phát triển công nghệ chiến lược gắn trực tiếp với bài toán của ngành Công Thương - 8

Có thể bạn quan tâm