Mỏng về số lượng và hạn chế về năng lực
Chia sẻ tại Hội thảo “Chuyển đổi mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” do Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức mới đây, PGS.TS Lưu Quốc Đạt - Trường Đại học Kinh tế đã chỉ ra một thực trạng không còn mới trong bức tranh doanh nghiệp Việt Nam nhưng vẫn mang tính thời sự.
Việt Nam có 10 doanh nghiệp/1.000 dân, thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực. Ảnh minh hoạ
Đó là, hiện Việt Nam có khoảng hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Dù tốc độ gia nhập thị trường của khu vực doanh nghiệp thời gian gần đây có nhiều tín hiệu tích cực kể từ khi Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành, song quy mô doanh nghiệp vẫn còn khá khiêm tốn.
Theo PGS.TS Lưu Quốc Đạt, mật độ doanh nghiệp tại Việt Nam hiện mới đạt khoảng 10 doanh nghiệp trên mỗi 1.000 dân, thấp hơn nhiều so với nhiều quốc gia trong khu vực và châu Á như Nhật Bản (27 doanh nghiệp), Thái Lan (45 doanh nghiệp) và Malaysia (32 doanh nghiệp) và đặc biệt là Hàn Quốc (130 doanh nghiệp trên 1.000 dân).
Không chỉ hạn chế về số lượng doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực doanh nghiệp cũng còn khoảng cách nhất định so với các nước phát triển. Hiện tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tại doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 29%; nếu tính cả lao động qua đào tạo nghề, tỷ lệ này đạt khoảng 70%. Trong khi đó tại Hàn Quốc, các tỷ lệ tương ứng lần lượt là 55% và 70%.
Không chỉ mỏng về số lượng, doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về năng lực khi có tới 95% doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ (MSE). Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến khu vực doanh nghiệp trong nước còn gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.
Trước đó, phát biểu tại Hội thảo “40 năm đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế”, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, trong vòng ba thập niên qua, Việt Nam đã hình thành nhiều doanh nghiệp có quy mô và tầm vóc vượt xa kỳ vọng ban đầu. Trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, số doanh nghiệp tư nhân đã tăng từ 263 doanh nghiệp năm 2016 lên 315 doanh nghiệp vào năm 2023. Theo bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500, Việt Nam có 76 doanh nghiệp nằm trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á.
Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu tích cực, ông Đậu Anh Tuấn cũng thẳng thắn cho rằng, quy mô doanh nghiệp Việt Nam vẫn nhỏ bé và phân mảnh. Trên 95% doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó khoảng 70% có quy mô dưới 10 lao động.
“Với quy mô quá nhỏ, doanh nghiệp không thể đầu tư đủ lớn để đổi mới công nghệ. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có liên hệ với chuỗi giá trị toàn cầu đã giảm từ 35% vào năm 2009 xuống chỉ còn 18% vào năm 2023”, ông Đậu Anh Tuấn thông tin.
Cần có thêm các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh minh hoạ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được trợ sức
Theo các chuyên gia, Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt được mục tiêu đó, cần nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa - khu vực chiếm trên 95% tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, kinh nghiệm từ nhiều quốc gia đi trước cũng cho thấy, để phát triển kinh tế, cần quan tâm phát triển khu vực doanh nghiệp SME. Điển hình là Nhật Bản, theo ông Đậu Anh Tuấn, trong giai đoạn phát triển thần kỳ từ 1955 - 1973, Chính phủ Nhật Bản đã khuyến khích hình thành các doanh nghiệp lớn để hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy gắn kết quan hệ doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Nhiều công ty nổi tiếng của Nhật Bản hiện nay được gộp lại từ 2 đến 3 công ty khác.
“Nhật Bản sớm nhận ra tầm quan trọng của doanh nghiệp SME. Biết được 3 điểm yếu cơ bản của SME là thiếu nguồn lực, khó tiếp cận vốn vay và không có khả năng thu thập phân tích thông tin, nhà nước đã lập ra các định chế giúp SME giải quyết cả 3 vấn đề đó. Đáng chú ý, ngay cả những doanh nghiệp siêu nhỏ dưới 10 người, có tới 75% vốn vay là từ ngân hàng, vốn phi chính thức chỉ có 25%” - Phó Tổng Thư ký VCCI nêu ví dụ.
Theo các chuyên gia, sự lớn mạnh của cộng đồng doanh nghiệp luôn là nền tảng quan trọng trong quá trình phát triển của mọi quốc gia. Tại Việt Nam, khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế, việc hỗ trợ khu vực này không chỉ mang ý nghĩa phát triển doanh nghiệp đơn thuần mà còn là giải pháp quan trọng để mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài.
Đáng chú ý, mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp đang hoạt động sẽ khó có thể hoàn thành nếu thiếu các chính sách đủ mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển. Bởi đây chính là lực lượng đông đảo nhất của nền kinh tế, đồng thời là nguồn bổ sung quan trọng cho đội ngũ doanh nghiệp quy mô lớn trong tương lai.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được triển khai mạnh mẽ hơn theo hướng tạo thuận lợi cho tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới, Việt Nam không chỉ cần những doanh nghiệp, tập đoàn lớn đóng vai trò dẫn dắt mà còn cần một lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động, có khả năng đổi mới sáng tạo, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và từng bước trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế.