Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ hai 20/09/2021 06:05

Doanh nghiệp Mỹ tiếp cận thị trường RCEP trị giá 25 nghìn tỷ USD thông qua các hiệp định hiện có

15:45 | 02/08/2021
Đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư Mỹ, quy mô tuyệt đối của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) làm cho khu vực này trở nên quan trọng. Các nền kinh tế tham gia RCEP chiếm 29% GDP toàn cầu và khoảng 30% dân số thế giới. Con số này tương đương với giá trị thị trường gần 25 nghìn tỷ USD và tổng cơ sở tiêu dùng khoảng 2,5 tỷ, trong đó ước tính khoảng 1 tỷ là người tiêu dùng trung lưu.

Mục tiêu chính của RCEP là thiết lập quan hệ đối tác kinh tế toàn diện - dựa trên các hiệp định song phương hiện có của ASEAN trong khu vực với các đối tác FTA. Nó sẽ được hướng dẫn bởi một bộ quy tắc và tiêu chuẩn chung, bao gồm các rào cản thương mại được hạ thấp, quy trình hợp lý hóa và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường.

Đối với các nhà đầu tư, RCEP mang lại cơ hội thương mại và đầu tư mới đáng kể trong các quốc gia tham gia và hình thành khối thương mại lớn nhất châu Á cho đến nay.

Doanh nghiệp Mỹ tiếp cận thị trường RCEP trị giá 25 nghìn tỷ USD thông qua các hiệp định hiện có

Hiệp định RCEP bao gồm 20 chương bao gồm nhiều điều thường thấy trong một hiệp định thương mại tự do (FTA). Đáng chú ý, nó đạt được những bước tiến đáng kể bằng cách hài hòa các quy tắc xuất xứ và tăng cường các biện pháp sở hữu trí tuệ. Trong RCEP, Mỹ đã có một số FTA với một số đối tác. Cụ thể là Mỹ đã có FTA với Úc từ năm 2004. Theo kết quả của FTA, các loại thuế quan trung bình 4,3% đã được loại bỏ đối với hơn 99% dòng thuế đối với hàng hóa sản xuất đủ tiêu chuẩn của Mỹ xuất khẩu sang Úc. Ngoài việc xóa bỏ thuế quan, FTA mang lại những lợi ích đáng kể trong một loạt các lĩnh vực khác. FTA đã mở ra thị trường cho các dịch vụ như bảo hiểm nhân thọ và chuyển phát nhanh, cải thiện việc bảo vệ tài sản trí tuệ và giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản đầu tư của Mỹ thông qua khả năng tiếp cận có thể đoán trước và môi trường kinh doanh ổn định.

Lần đầu tiên, trong nhiều lĩnh vực, các công ty Mỹ hiện được phép cạnh tranh để mua hàng của Chính phủ Úc trên cơ sở không phân biệt đối xử. Các mặt hàng xuất khẩu của Mỹ được hưởng lợi từ việc đối xử miễn thuế, bao gồm thực phẩm chế biến, trái cây và rau quả, ngô và đậu nành. FTA cũng tạo ra những tiến bộ trong thương mại điện tử và tiếp cận thị trường dược phẩm. Mặc dù Úc là một thị trường đã trưởng thành, nhưng có thể có cơ hội sử dụng FTA Mỹ - Úc để tiếp cận RCEP và các thị trường mới nổi trong RCEP - cụ thể là Campuchia và Lào - để thực hiện một số chức năng hoàn thiện theo thỏa thuận RCEP. Điều đó sẽ làm giảm chi phí sản xuất và giúp phát triển các cơ sở sản xuất của các quốc gia nhỏ hơn này.

Mỹ và Singapore đã ký một FTA vào tháng 5/2003. Thỏa thuận ràng buộc tất cả các mức thuế của Singapore đối với hàng hóa của Mỹ ở mức 0, trong khi FTA đã tăng cơ hội xuất khẩu cho một số lĩnh vực sản xuất của Mỹ, bao gồm sản xuất dụng cụ và thiết bị y tế, vi điện tử, thiết bị ảnh, một số hàng dệt may, dược phẩm và hóa chất. Singapore cũng đã cho phép tiếp cận đáng kể vào các dịch vụ và thị trường đầu tư của mình, với một số ngoại lệ. Nó cũng làm tăng cơ hội mua sắm của chính phủ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, FTA cung cấp sự hợp tác đột phá trong việc thúc đẩy quyền lao động và môi trường. Lĩnh vực dịch vụ tài chính được hưởng lợi đặc biệt khi cộng tác nhiều hơn vào các quy trình hiểu biết khách hàng (KYC) xuyên biên giới, phát triển kỹ năng, an ninh mạng và tài chính xanh. Các công ty Mỹ có thể kiểm tra những lĩnh vực USSFTA trùng lặp với RCEP và sử dụng Singapore như một trung tâm để tiếp cận với các thị trường RCEP đầy đủ.

Singapore đặc biệt hữu ích với tư cách là một trung tâm khu vực vì nó sở hữu các cơ sở ngân hàng nội bộ RCEP và các dịch vụ tài chính và hậu cần khác mà từ Mỹ không dễ dàng tiếp cận. Singapore đang phát triển như một trung tâm thương mại điện tử toàn cầu lớn vì những lý do này. Việc thành lập một doanh nghiệp thương mại điện tử của Mỹ ở Singapore sẽ cung cấp quyền truy cập vào thỏa thuận RCEP mà Singapore đã ký kết. Các công ty được thành lập ở Singapore có thể sở hữu 100% vốn nước ngoài (tức là người Mỹ). Singapore áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 17%, không có thuế do lợi nhuận thu được từ Singapore ra bên ngoài. Singapore áp dụng thuế suất cư trú lũy tiến bắt đầu từ 0% và kết thúc ở mức 22% trên 320.000 USD. Không có lợi tức vốn hoặc thuế thừa kế. Thu nhập cá nhân kiếm được khi làm việc ở nước ngoài không bị đánh thuế trừ một số trường hợp ngoại lệ.

Mỹ đã có FTA với Hàn Quốc (được gọi là Korus) từ năm 2012. Sau khi thực hiện, gần 80% hàng hóa công nghiệp của Mỹ xuất khẩu sang Hàn Quốc được miễn thuế, bao gồm thiết bị hàng không vũ trụ, thiết bị nông nghiệp, phụ tùng ô tô, sản phẩm xây dựng, hóa chất, hàng tiêu dùng, thiết bị điện, hàng hóa môi trường, hàng du lịch, sản phẩm giấy, thiết bị khoa học và thiết bị vận chuyển và vận tải. Các lợi ích khác của FTA bao gồm bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽ hơn ở Hàn Quốc và tăng khả năng tiếp cận thị trường dịch vụ trị giá 580 tỷ USD của Hàn Quốc cho các công ty Mỹ.

Hàn Quốc là một thị trường đã trưởng thành, tuy nhiên, có thể có cơ hội sử dụng FTA này để tiếp cận RCEP và các thị trường mới nổi trong RCEP - cụ thể là Campuchia và Lào - để thực hiện một số chức năng hoàn thiện nhất định theo thỏa thuận RCEP. Điều đó sẽ làm giảm chi phí sản xuất tổng thể và hỗ trợ giá cả và biên lợi nhuận cạnh tranh trên toàn cầu.

Hiệp định Thương mại song phương Mỹ - Việt Nam (BTA) khác với một FTA hoàn chỉnh, là một văn bản toàn diện bao gồm thương mại hàng hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, bảo hộ đầu tư, tạo thuận lợi kinh doanh và minh bạch. Thỏa thuận dài 140 trang, mất gần 5 năm để đàm phán và có hiệu lực, mang tính kỹ thuật cao và được viết ra để phù hợp với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các nguyên tắc đầu tư và thương mại quốc tế khác. Về cơ bản, BTA có thể được tóm tắt như một cam kết của cả hai bên nhằm tạo điều kiện cần thiết cho các sản phẩm, doanh nghiệp và công dân của bên kia tiếp cận công bằng để cạnh tranh trên thị trường của bên kia.

Khi BTA có hiệu lực vào ngày 10/12/2001, Mỹ đã ngay lập tức cung cấp cho hàng hóa và các công ty của Việt Nam tiếp cận thị trường Mỹ - một thị trường chiếm gần 1/3 GDP thế giới - trên cơ sở đó cấp cho các quốc gia khác mà họ có quan hệ thương mại bình thường. Điều này có nghĩa là các sản phẩm của Việt Nam hiện được đánh giá thuế quan thấp hơn nhiều - giảm từ mức trung bình 40% xuống trung bình 3% - khi nhập khẩu vào Mỹ.

Về phần mình, Việt Nam đã cam kết cải cách chế độ thương mại và đầu tư để cung cấp một “sân chơi” bình đẳng hơn và công bằng hơn cho các công ty và sản phẩm của Mỹ tại Việt Nam. Trong nhiều trường hợp, các cam kết của Việt Nam được thực hiện theo từng giai đoạn trong vài năm nhằm ghi nhận tình trạng chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam và những cải cách quan trọng cần thiết để đưa cơ chế quản lý của Việt Nam tuân thủ các chuẩn mực quốc tế.

BTA là hiệp định thương mại toàn diện nhất mà Việt Nam đã ký kết với Mỹ cho đến nay. Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi và mang lại nhiều tiềm năng khác nhau cho các doanh nghiệp Mỹ muốn tiếp cận thị trường RCEP. Việt Nam là một cơ sở sản xuất và kinh doanh phù hợp để tiếp cận RCEP với năng suất ngày càng cao, trình độ kỹ năng của người lao động và thị trường lao động cạnh tranh. Các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Việt Nam có thể tìm thấy một cơ sở cạnh tranh tuyệt vời để tiếp cận với RCEP. Việt Nam áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% và đánh thuế thu nhập cá nhân với thuế suất từ 0% đến 35%.

Việt Dũng