![]() |
| Hoạt động khai thác khoáng sản cần được quản lý chặt chẽ |
Nhiều bất cập
Theo TS. Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính), chính sách thuế tài nguyên còn nhiều bất cập, tạo kẽ hở để DN tránh thuế và trốn thuế. Cụ thể: Thuế tài nguyên được tính dựa trên sản lượng khai thác thực tế, giá tính thuế và thuế suất. Tuy nhiên, sản lượng khai thác thực tế do DN tự tính toán và kê khai. Ngoài ra, giá bán thuế tài nguyên chủ yếu do UBND tỉnh quy định và có sự chênh lệch khá lớn giữa các địa phương. Việc kiểm soát sản lượng khai thác, giá tính thuế thiếu chặt chẽ. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên - môi trường chưa hiệu quả; nạn khai thác và xuất khẩu trái phép vẫn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương gây thất thu ngân sách.
Chia sẻ về thực tế tại đơn vị mình, ông Hoàng Ngọc Thao - Công ty Apatit Việt Nam - cho biết, chính sách thuế tài nguyên đối với quặng nguyên khai (loại 1 và 2) nói chung hiện nay kể cả giá tính thuế và thuế suất là phù hợp. Tuy nhiên, để có chính sách nuôi dưỡng nguồn thu, khuyến khích tận thu và sử dụng triệt để các loại quặng nghèo, giá tính thuế tài nguyên quặng loại 3 chưa phù hợp. Cụ thể, Công ty Apatit Việt Nam đang khai thác 3 loại quặng chính gồm: Quặng loại 1 (khoảng 32% P2O5), quặng loại 2 (22-28% P2O5), quặng loại 3 (9-18%). Trong đó, hiện nay trữ lượng quặng loại 1 và 2 không còn nhiều. Quặng loại 3 không thể sử dụng trực tiếp để sản xuất mà phải qua quá trình tuyển. Hiện giá tính thuế tài nguyên đối với quặng loại 3 được ấn định là 350.000 đồng/tấn. Với mức thu này, tổng giá thành chế biến quặng loại 3 thành quặng tuyển có thể sử dụng được là 944.933 đồng/tấn. Giá bán quặng tuyển là 962.900/tấn. Như vậy công ty gần như không có lãi khi khai thác quặng nghèo.
Tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài nguyên
Liên quan đến vấn đề này, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Nam - Hội Khoa học và Công nghệ mỏ Việt Nam (Hiệp hội Năng lượng Việt Nam) - cho hay, căn cứ tính thuế theo sản lượng khai thác được cho là không hợp lý do dẫn đến tình trạng “dễ làm khó bỏ” hay tình trạng kê khai sản lượng thấp hơn thực tế. Bên cạnh đó, áp dụng khung thuế suất theo quy định của luật không hợp lý. Cụ thể, khung thuế suất do Luật Thuế tài nguyên quy định có phạm vi dao động rất lớn giữa mức thấp nhất và mức cao nhất, từ khoảng 2 đến hơn 6 lần tùy loại khoáng sản; áp dụng mức thuế suất gần như đồng loạt hoặc chênh lệch không đáng kể cho các mỏ cùng loại khoáng sản mặc dù giữa chúng có mức độ thuận lợi, khó khăn khác nhau lớn. Giá tính thuế tài nguyên đang bao gồm cả phần giá trị vận chuyển và giá trị sàng tuyển làm giàu khoáng sản không hợp lý.
Trước thực tế này, nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài nguyên và điều tiết nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước, ông Nguyễn Cảnh Nam kiến nghị cần phải sửa đổi Luật Thuế tài nguyên; tuân thủ quan điểm coi tài nguyên khoáng sản là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, khung thuế suất thuế tài nguyên nên xem xét thu hẹp lại theo hướng giảm mức trần; thay đổi cách áp dụng khung thuế suất thuế tài nguyên đối với khoáng sản bằng cách phân loại các nhóm mỏ theo mức độ thuận lợi và khó khăn khác nhau; có chính sách thuế khuyến khích tăng cường chế biến sâu khoáng sản, khuyến khích khai thác tận thu thêm trữ lượng… Ngoài ra, đề nghị xem xét bỏ quy định về khoản thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của Luật Khoáng sản vì trùng lặp với thuế tài nguyên đối với khoáng sản.
| Thống kê của Bộ Tài chính: Năm 2015, số thu thuế tài nguyên đạt 11.129 tỷ đồng, chiếm khoảng 1,22% tổng số thu ngân sách nhà nước. Tại nhiều địa phương, số thu thuế tài nguyên thậm chí không đủ chi phí quản lý nhà nước đối với khai thác khoáng sản. |





