Điều kiện xét tiếp nhận vào công chức
Bộ Nội vụ vừa có ý kiến trả lời bạn đọc về việc xác định thời gian công tác để xem xét tiếp nhận vào làm công chức theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo nội dung đề nghị, từ năm 2008 đến ngày 11/12/2022 ông làm việc theo hợp đồng lao động tại một đơn vị sự nghiệp công lập, tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc liên tục và chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Công việc chuyên môn trong thời gian này là quản lý dự án đầu tư xây dựng, được xếp lương theo mã ngạch viên chức V.05.02.07.
Bộ Nội vụ có ý kiến trả lời về việc xác định thời gian công tác để xem xét tiếp nhận vào làm công chức. Ảnh: Báo Chính phủ
Từ ngày 12/12/2022 đến nay, ông được tuyển dụng làm viên chức và tiếp tục thực hiện công việc chuyên môn nêu trên, theo mã ngạch viên chức V05.02.07.
Bạn đọc cho rằng, qua nghiên cứu quy định tại Điều 13 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 300/2026/NĐ-CP, người được xem xét tiếp nhận phải là viên chức và đáp ứng điều kiện có đủ 5 năm công tác trở lên, có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Trường hợp có thời gian công tác không liên tục và chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Tuy nhiên, ông băn khoăn về việc thời gian làm việc theo hợp đồng lao động tại đơn vị sự nghiệp công lập, có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực hiện công việc chuyên môn phù hợp trước khi được tuyển dụng viên chức có được xác định là thời gian công tác để tính điều kiện tiếp nhận vào công chức hay không.
Trả lời vấn đề này, Bộ Nội vụ dẫn quy định tại Điều 13 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 300/2026/NĐ-CP ngày 29/7/2026.
Theo Bộ Nội vụ, tại điểm d khoản 2 Điều 13, đối với các trường hợp thuộc điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 13, người được xem xét tiếp nhận phải có đủ 5 năm công tác trở lên làm công việc có yêu cầu trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận.
Cách tính thời gian công tác
Nghị định của Chính phủ cũng quy định thời gian công tác được xác định là thời gian liên tục trước khi tiếp nhận vào làm công việc ở trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp; không tính thời gian tập sự, thử việc nếu có; có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và xếp lương tương ứng với công việc ở vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận. Riêng trường hợp thuộc điểm d và điểm g khoản 1 Điều 13 không yêu cầu phải xếp lương tương ứng.
Đáng chú ý, trường hợp có thời gian công tác ở các vị trí việc làm quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g khoản 1 Điều 13 hoặc ở vị trí việc làm cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 52/2019/QH14, thì được cộng dồn nếu bảo đảm đáp ứng các yêu cầu nêu trên.
Bộ Nội vụ cũng làm rõ, công việc có yêu cầu trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc ở vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận là công việc gắn với chuyên ngành đào tạo, có yêu cầu sử dụng kiến thức, kỹ năng, chuyên môn phù hợp với bản mô tả và khung năng lực của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận.
Như vậy, Bộ Nội vụ trả lời trên cơ sở các điều kiện về thời gian công tác, bảo hiểm xã hội bắt buộc, việc xếp lương và sự phù hợp giữa công việc đã thực hiện với yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 300/2026/NĐ-CP.