ĐHN - nguồn năng lượng thay thế
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về vấn đề này, ông Lê Doãn Phác, chuyên viên cao cấp Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam cho biết, việc phát triển ĐHN nằm trong quy hoạch năng lượng của quốc gia trong bối cảnh không phải năng lượng nào cũng có sẵn. Nhiều loại năng lượng sẽ đến lúc cạn kiệt. Phát triển ĐHN là để giải bài toán cân bằng năng lượng chứ không phải tối ưu năng lượng. Khi nhiệt điện, thủy điện không đáp ứng được nhu cầu năng lượng, ĐHN được đưa vào xem xét như là một trong các nguồn năng lượng thay thế. Trên thế giới, ĐHN vẫn không ngừng tăng trưởng và được các quốc gia lựa chọn. Chẳng hạn, như Pháp có tỷ lệ ĐHN đến hơn 70% trong tổng công suất điện.
![]() |
| Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt |
Ông Đoàn Thế Vinh, Phó Vụ trưởng Vụ Nhiệt điện và điện hạt nhân – Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương khẳng định, việc phát triển ĐHN nhằm đảm bảo an ninh năng lượng. Không thể phụ thuộc quá nhiều vào một nguồn năng lượng. Các nhà quản lý luôn phải tính đến phương án rủi ro khi một loại năng lượng nào đó ngừng hoạt động và phải có một loại năng lượng khác thay thế.
Hiện nay, tổng vốn đầu tư cho ngành điện khoảng 5,864 tỷ USD/năm và đến năm 2030 là hơn 7,8 tỷ USD/năm. Từ nay đến năm 2030, bình quân vốn đầu tư cho ngành than là 1,6 tỷ USD/năm. Theo đó, việc đầu tư ĐHN nhằm đáp ứng kỳ vọng giảm nhập khẩu nhiên liệu và năng lượng luôn bất ổn về giá. Dự kiến, đến năm 2030, tỷ lệ ĐHN chiếm khoảng 7% tổng công suất điện quốc gia. Đến năm 2050, ĐHN sẽ chiếm khoảng 15 - 20% tổng công suất điện.
Giải quyết thách thức
Theo ông Phan Minh Tuấn, Phó giám đốc Ban Quản lý dự án ĐHN Ninh Thuận, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hiện nay, Việt Nam đang tích cực triển khai dự án nhà máy ĐHN Ninh Thuận. Trong đó, nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 sẽ được xây dựng tại huyện Thuận Nam, nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2 tại huyện Ninh Hải. Tổng công suất dự kiến phát triển quy mô khoảng 4.000 MW cho mỗi nhà máy. Hai nhà máy sử dụng là công nghệ lò nước nhẹ, nhiên liệu nhập khẩu và được đấu nối với lưới điện quốc gia bằng cấp điện áp 500kV.
Tuy nhiên, là một quốc gia bắt đầu chương trình ĐHN, Việt Nam đang gặp phải nhiều khó khăn. Đây là dự án lớn về quy mô và đầu tư, việc thực hiện xây dựng nhà máy ĐHN trung bình mất khoảng 15 năm. Trong khi đó, cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển ĐHN của Việt Nam đang ở mức độ thấp. Hệ thống pháp luật quốc gia chưa hoàn chỉnh, thiếu nhân lực, thiếu vốn đầu tư.
Để giải quyết các thách thức trên, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2241/QĐ-TTg phê duyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng ĐHN giai đoạn đến năm 2020”. Chính phủ đã chỉ đạo, đầu tư cho các Bộ, ngành liên quan tiến hành công tác xây dựng, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, Chính phủ vừa chính thức phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - triển khai và hỗ trợ kỹ thuật đến năm 2020 phục vụ phát triển ĐHN. Theo kế hoạch, dự kiến sẽ có hàng nghìn kỹ sư, cán bộ quản lý phát triển ĐHN được cử đi đào tạo trong nước và nước ngoài.
“Về vốn đầu tư, chúng ta sẽ dựa vào vốn vay ưu đãi, lãi suất thấp của các đối tác. Nga và Nhật Bản đã ký cam kết với Việt Nam cho vay với lãi suất thấp để thực hiện dự án xây dựng nhà máy ĐHN”, ông Phác nhấn mạnh.
Cũng theo ông Phác, về nguyên tắc, nhà máy ĐHN không có ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Việc nhà máy cách khu dân cư bao xa phụ thuộc vào diện tích quỹ đất của từng khu vực. Không có quy chuẩn tuyệt đối nào giống nhau giữa các nước về khoảng cách này. Có nhà máy ĐHN ở một số nước nằm không xa khu dân cư như nhà máy ĐHN ở Trung Quốc chỉ nằm cách khu dân cư khoảng 5km.
Phó tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Thế giới (IAEA) - Mikhail Chudakov nhấn mạnh: Năng lượng hạt nhân là một nguồn năng lượng hiện đại, giá cả phải chăng, đáng tin cậy và sạch cần phải được xem xét trong số các phương án cac-bon thấp được lựa chọn. Với các công nghệ tiên tiến, không những đảm bảo an ninh năng lượng mà còn giảm thiệt hại cho các hệ sinh thái cũng như phục vụ nhân loại một cách hiệu quả trong thời gian rất dài.
