Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ ba 26/10/2021 15:32

Đầu ra làng nghề gỗ giảm 76% vì dịch Covid-19

15:58 | 22/09/2021
Hiện làng nghề là nguồn cung chủ yếu các sản phẩm gỗ cho thị trường nội địa. Các biện pháp giãn cách nhằm kiểm soát dịch Covid-19 trong thời gian gần đây có tác động rất lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ làng nghề gỗ đặt ra sự cần thiết về một chính sách bao trùm.

Ngày 22/9, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam phối hợp với Tổ chức Forest Trends tổ chức Hội nghị trực tuyến “Đại dịch Covid-19 và làng nghề gỗ: Tác động và sự cần thiết về một chính sách bao trùm”.

Đầu ra làng nghề gỗ giảm 76%

Đại dịch Covid-19 làm đầu ra tiêu thụ sản phẩm của hộ gặp phải khó khăn, điều này làm giảm nguồn thu của hộ và lượng nguyên liệu gỗ đầu vào. Khảo sát của Nhóm nghiên cứu giữa Forest Trends và các hiệp hội gỗ tại 6 làng nghề gỗ vùng đồng bằng sông Hồng (Đồng Kỵ, Hữu Bằng, La Xuyên, Liên Hà, Thụy Lân và Vạn Điểm) - nơi sản xuất chế biến gỗ đóng vai trò chính trong nguồn thu của hộ cho thấy đầu ra của các hộ giảm 76%, với tỷ lệ đầu ra giảm nhiều nhất tại Đồng Kỵ (90%). Nguyên nhân do sản phẩm của Đồng Kỵ tiêu thụ khó khăn bởi so với các làng nghề khác, sản phẩm của Đồng Kỵ có giá cao hơn rất nhiều so với sản phẩm của các làng nghề khác.

5743-b756f0ab65e69fb8c6f7
Tác động dịch Covid-19 khiến đầu ra làng nghề gỗ giảm 76%

Theo đại diện một số hộ Đồng Kỵ, hiện 30% lượng sản phẩm của làng nghề được làm từ các loại gỗ quý có nguồn gốc từ Lào và Campuchia,70% còn lại sản phẩm làm từ châu Phi nhập khẩu. Giá của các sản phẩm được làm từ gỗ nhập khẩu từ Campuchia và Lào cao hơn nhiều các sản phẩm làm từ gỗ châu Phi. Trong bối cảnh dịch bệnh, cầu tiêu dùng về các sản phẩm đắt đỏ giảm.

Thụy Lân là nơi có tỷ lệ suy giảm sản phẩm đầu ra thấp nhất trong số các làng khảo sát. Một trong những lý do của thực trạng này có thể là do Thụy Lân là làng nghề nhỏ (so với các làng còn lại), và các sản phẩm của Thụy Lân chủ yếu (80%) là bán buôn, với đầu ra ổn định hơn so với các hộ tại các làng nghề khác.

Không tiêu thụ được sản phẩm dẫn tới việc thu hẹp quy mô sản xuất, thu nhập của hộ giảm. Bình quân thu nhập của hộ tại các làng nghề khảo sát giảm gần 90% so với trước giãn cách. Liên Hà và Vạn Điểm là nơi thu nhập của hộ giảm mạnh nhất, lần lượt là 90% và 80%. Các hộ tại La Xuyên có tỷ lệ thu nhập giảm thấp nhất (45%).

Thu hẹp quy mô sản xuất cũng đồng nghĩa với việc giảm nguồn gỗ tiêu thụ đầu vào. Tính bình quân lượng gỗ đầu vào của các hộ giảm 68%. Đồng Kỵ là nơi các lượng gỗ đầu vào giảm mạnh nhất (90%), tiếp đến Liên Hà (85%), trong khi La Xuyên là nơi có lượng nguyên liệu đầu vào giảm ít nhất (40%).

Trên 70% số hộ vay vốn để sản xuất kinh doanh. Hoạt động sản xuất đình trệ, nguồn thu bị mất hoặc sụt giảm tạo ra sức ép về các khoản vay rất lớn cho các hộ. Trước sức ép trả lãi suất ngân hàng và để tránh rơi vào danh sách hộ nợ xấu, một số hộ phải đi vay “tín dụng đen” với lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng để trả lãi và các khoản vay đến hạn phải trả, trước khi có được các khoản vay mới từ ngân hàng. Điều này tiềm ẩn rủi ro rất lớn đối với hộ.

Khoảng 46% số hộ tại các làng đã quay trở lại sản xuất, tuy nhiên các hoạt động này chỉ mang tính chất “cầm chừng” với mục đích “làm để giữ thợ” và “lấy công làm lãi” mà không có lợi nhuận. Làng có số hộ quay lại sản xuất cao nhất đạt 80% (La Xuyên) và làng thấp nhất chỉ đạt 30% (Đồng Kỵ).

Từ đầu tháng 7/2021 đến nay, Chính phủ ban hành 2 nghị quyết (Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 1/7/2021 và Nghị quyết 105/NQ-CP ngày 9/9/2021) nhằm hỗ trợ các nhóm đối tượng chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, các hộ sản xuất tại các làng nghề khảo sát không tiếp cận được với nguồn hỗ trợ này. Nguyên nhân chính là bởi các hộ không có đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế do vậy các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ không được các cơ quan quản lý công nhận một cách chính thức. Kết quả là hộ nằm ngoài tiêu chí được hỗ trợ được quy định trong các nghị quyết nêu trên.

Cần chính sách bao trùm

Ông Tô Xuân Phúc - Chuyên gia Tổ chức Forest Trend - cho rằng, hiện còn thiếu các tổ chức đại diện hiệu quả cho các hộ tại các làng nghề. Điều này làm làm cho kết nối giữa làng nghề và các cơ quan liên quan, bao gồm các cơ quan quản lý, hiệp hội gỗ, các tổ chức phát triển lỏng lẻo. Sự lỏng lẻo này hình thành cách hiểu chưa đúng về vai trò và vị thế của các hộ làng nghề và làm mất cơ hội tiếp cận với các nguồn lực phát triển cho hộ.

Cũng giống như mọi ngành kinh tế khác, đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ làng nghề. Với vai trò quan trọng của các hộ tại các làng nghề hiện nay, ông Tô Xuân Phúc cho rằng, Chính phủ nên điều chỉnh lại các tiêu chí hỗ trợ theo hình thức bao trùm hơn, đảm bảo các hộ tại làng nghề có thể tiếp cận được với các nguồn hỗ trợ này và không bị bỏ lại phía sau như mục tiêu mà Chính phủ đề ra. Trong tương lai, Chính phủ nên đẩy mạnh việc trợ giúp các hộ chuyển đổi từ hình thức không chính thức như hiện nay sang hình thức chính thức, giúp hộ có vị thế pháp lý rõ ràng. Chuyển đổi với các lợi ích rõ ràng, phù hợp với bối cảnh của hộ sẽ thu hút được sự tham gia của hộ. Việc chuyển đổi không chỉ giúp các hộ tiếp cận được với các nguồn lực của Nhà nước và của xã hội để phát triển mà còn giúp cho các cơ quan Nhà nước quản lý được hoạt động của làng nghề tốt hơn trong tương lai.

Ông Đỗ Xuân Lập - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam - cho biết, con số hàng chục nghìn hộ với hàng trăm nghìn lao động tham gia vào khâu sản xuất kinh doanh sản phẩm gỗ tại trên 300 làng nghề gỗ trong cả nước cho thấy tầm quan trọng của các làng nghề này về mặt kinh tế và xã hội. Các làng nghề gỗ đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các sản phẩm gỗ cho thị trường nội địa. Tuy nhiên, vai trò và tầm quan trọng của các làng nghề hiện chưa được đánh giá một cách đầy đủ và công bằng. Các cơ chế chính sách và thông tin đại chúng thường tập trung ưu tiên vào khối doanh nghiệp.

Tuy nhiên, vai trò của các làng nghề còn hết sức mờ nhạt và yếu thế trong các chính sách phát triển. Ông Đỗ Xuân Lập cho rằng, cần có các chính sách hỗ trợ cho hộ kinh doanh làng nghề. Bên cạnh đó, cần xây dựng các kết nối chặt chẽ hơn trong tương lai giữa các làng nghề và các doanh nghiệp trong các hiệp hội, giữa các làng nghề và các cơ quan quản lý. Định vị lại vai trò của các hộ tại các làng nghề trong bức tranh tổng thể về ngành gỗ Việt Nam, từ đó đưa ra các kiến nghị phù hợp, thúc đẩy các làng nghề gỗ phát triển bền vững.

Nguyễn Hạnh