Hạ tầng môi trường chưa theo kịp yêu cầu phát triển
Tây Nguyên có nhiều lợi thế về thương mại, năng lượng tái tạo và chế biến nông sản. Tuy nhiên, phát triển kinh tế cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với quản lý tài nguyên, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường.
Tỉnh Đắk Lắk từng bước hình thành, chuyển đổi các cụm công nghiệp theo mô hình sinh thái.
Phát biểu tại hội thảo về phát triển công nghiệp môi trường và cụm công nghiệp sinh thái vừa diễn ra tại Đắk Lắk, ông Đào Mỹ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, bám sát định hướng phát triển ngành công nghiệp môi trường của Chính phủ, Đắk Lắk xác định kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ứng dụng công nghệ hiện đại là xu hướng tất yếu. Từng bước hình thành, chuyển đổi các cụm công nghiệp (CCN) theo mô hình sinh thái là nhiệm vụ trọng tâm hướng đến phát triển bền vững.
Lãnh đạo tỉnh khẳng định sẽ đồng hành, tạo cơ chế, chính sách thông thoáng và môi trường đầu tư thuận lợi để các tổ chức tín dụng, viện, trường, doanh nghiệp triển khai dự án năng lượng sạch, công nghệ môi trường và xây dựng CCN sinh thái.
Từ góc độ nghiên cứu, ông Ngô Đức Thanh, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho rằng, hạ tầng môi trường đang là điểm nghẽn lớn. Theo số liệu tổng hợp đến tháng 6/2026, tại bốn tỉnh được khảo sát gồm Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, chỉ 15/119 CCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn, tương đương 12,6%.
Riêng Đắk Lắk, tỷ lệ này là 5%, tương ứng 1/20 cụm đang hoạt động. Trong khi đó, các ngành chế biến cà phê, cao su, tinh bột sắn, mía đường phát sinh lượng nước thải hữu cơ lớn, tạo áp lực lên nguồn nước và sản xuất nông nghiệp.
Đầu tư hạ tầng còn hạn chế, quy mô doanh nghiệp nhỏ và liên kết sản xuất chưa chặt chẽ cũng cản trở quá trình chuyển đổi. Nhiều CCN phát triển theo hướng đa ngành, chưa gắn kết rõ với chuỗi giá trị nông, lâm sản đặc trưng của từng địa bàn.
Tuy nhiên, khó khăn về môi trường đi cùng dư địa khai thác tài nguyên. Tham luận cho biết, mỗi năm khu vực phát sinh hơn 500.000 tấn vỏ trấu cà phê cùng hàng triệu tấn bã sắn, vỏ điều. sầu riêng và phụ phẩm gỗ. Nếu được thu gom, phân loại, xử lý phù hợp, những dòng phụ phẩm này có thể trở thành nguyên liệu, nhiên liệu cho hoạt động sản xuất khác.
Vỏ sầu riêng thải ra môi trường gây ô nhiễm, trong khi có thể tận dụng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ và nhiên liệu sinh khối.
Theo ông Thanh, chuyển đổi sinh thái cần hướng đến tổ chức lại không gian sản xuất, tạo liên kết về nguyên liệu, nước và năng lượng giữa doanh nghiệp. Hạ tầng dùng chung sẽ giúp giảm gánh nặng đầu tư riêng lẻ, nhất là với cơ sở nhỏ và vừa.
Liên kết doanh nghiệp, biến phụ phẩm thành giá trị
Ông Trần Văn Lượng, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam, đánh giá Tây Nguyên có hai thế mạnh nổi bật là nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp dồi dào và tiềm năng năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời.
Để khai thác hiệu quả, cần hình thành những CCN mà doanh nghiệp có thể liên kết, chia sẻ năng lượng và xử lý phụ phẩm. Mô hình này đòi hỏi sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp, cùng quyết tâm của cơ quan quản lý.
Theo ông Lượng, quy hoạch phải được thực hiện ngay từ đầu, với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương. Việc lựa chọn dự án cần gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường, kiên quyết từ chối dự án gây ô nhiễm.
Ông Trần Văn Lượng cũng cho rằng công nghiệp môi trường cần được tích hợp trong các hoạt động kinh tế. Với nông nghiệp Tây Nguyên, lựa chọn công nghệ phù hợp có thể mở thêm hướng khai thác giá trị từ phụ phẩm, trong đó có vỏ sầu riêng, đồng thời giảm áp lực xử lý chất thải.
Ông Trần Văn Lượng kiến nghị cần hình thành những CCN mà doanh nghiệp có thể liên kết, chia sẻ năng lượng và xử lý phụ phẩm.
Về nội dung này, ông Ngô Đức Thanh dẫn kinh nghiệm từ Costa Rica, Trung Quốc và Nhật Bản với điểm chung là tổ chức liên kết giữa các cơ sở sản xuất để tận dụng phụ phẩm, tái sử dụng nước và phát triển năng lượng sinh khối.
Với ngành cà phê, vỏ, bã và nước thải giàu hữu cơ có thể được thu gom để sản xuất khí sinh học, phân hữu cơ hoặc nhiên liệu phục vụ sấy. Với chế biến gỗ, mùn cưa, dăm và đầu mẩu có thể làm viên nén, nhiên liệu sinh khối. Các chuỗi mía, sắn có thể kết nối với sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón và năng lượng.
Để triển khai, chuyên gia đề xuất quy hoạch CCN gắn với vùng nguyên liệu, lựa chọn những ngành có khả năng bổ trợ. Hạ tầng cấp, thoát nước, xử lý nước thải, thu gom phụ phẩm và cung cấp năng lượng cần được đầu tư đồng bộ, phù hợp quy mô sản xuất.
Một yêu cầu khác là xây dựng dữ liệu về nguyên liệu, phụ phẩm, nước và năng lượng của doanh nghiệp. Từ đó, địa phương có cơ sở kết nối bên phát sinh phụ phẩm với bên có nhu cầu sử dụng. Các thỏa thuận phải làm rõ chất lượng, khối lượng, giá trị và trách nhiệm, bảo đảm tuân thủ quy định môi trường.
Ở góc độ quản lý, ông Trương Việt Trường, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp, Bộ Công Thương cho biết, công nghiệp môi trường đang được định hướng trở thành ngành kinh tế chiến lược.
Bộ Công Thương đang hoàn thiện khung pháp lý, nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ tái chế; thúc đẩy thị trường thiết bị, công nghệ môi trường và tăng cường kết nối, chuyển giao công nghệ.
Nguồn vốn cũng được các đại biểu xác định là điều kiện quan trọng. Tại hội thảo, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) giới thiệu gói tín dụng 5.000 tỷ đồng, hỗ trợ đầu tư điện mặt trời mái nhà, hạ tầng khu công nghiệp, CCN, kho xưởng cho thuê và dự án điện mặt trời nổi.
Trong lộ trình đề xuất giai đoạn 2026 - 2030, tham luận kiến nghị lựa chọn hai CCN chế biến cà phê và gỗ để thí điểm; tiếp đó đầu tư hạ tầng dùng chung, vận hành liên kết cộng sinh, tổng kết và nhân rộng. Với CCN hiện hữu, chuyển đổi cần theo từng mức độ, phù hợp khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Từ thực tiễn này, phát triển CCN sinh thái cần sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và cơ sở nghiên cứu. Khi phụ phẩm được khai thác hiệu quả và chi phí môi trường được kiểm soát, doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện đầu tư chế biến sâu, nâng giá trị nông sản và sức cạnh tranh trên thị trường.
Tham luận đề xuất bộ tiêu chí 100 điểm với 5 nhóm: quy hoạch, hạ tầng; hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng; quản lý chất thải; liên kết chuỗi giá trị, cộng sinh công nghiệp; quản trị, xã hội và tuân thủ pháp luật. Khung đánh giá dự kiến phân thành 3 cấp độ: chuyển đổi sinh thái, sinh thái quốc gia và sinh thái kiểu mẫu. Đây là đề xuất nghiên cứu, làm cơ sở tham khảo để hoàn thiện hướng dẫn triển khai.