Longform
11/10/2026 08:59
Địa phương

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực

Chủ Nhật, 11/10/2026 08:59:00 +07:00

(Công Thương) - Dư địa lớn, chính sách đã mở, mục tiêu cũng đã được lượng hóa. Bài toán của Bắc Ninh là làm thế nào biến hàng triệu mét vuông mái nhà thành nguồn điện thực sự, biến nguồn vốn xã hội thành động lực cho tăng trưởng và làm thế nào để mỗi quyết định đầu tư vừa mang lại hiệu quả kinh tế, vừa góp phần củng cố an ninh năng lượng quốc gia.

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Nghị quyết của Quốc hội về thành lập thành phố Bắc Ninh ngày 19/9.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Nghị quyết của Quốc hội về thành lập thành phố Bắc Ninh ngày 19/9.

Bắc Ninh đang bước vào một chặng đường phát triển mới. Từ ngày 20/9, Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Tại Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Bắc Ninh ngày 19/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Bắc Ninh hiện nay đang đứng trước không gian phát triển mới, với nền tảng công nghiệp, hạ tầng, nhân lực, khả năng hút đầu tư và chiều sâu văn hóa đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Yêu cầu đặt ra phải phát triển nhanh ở một tầm cao mới, quản trị tốt hơn, tự chủ hơn, bền vững hơn, mọi thành quả phát triển phải thực sự hướng tới nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân.

Vị thế mới mở ra dư địa phát triển lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hạ tầng năng lượng. Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển khoảng 3.392 MW điện mặt trời mái nhà vào năm 2035, Bắc Ninh dự kiến cần huy động khoảng 30.000 tỷ đồng nguồn lực xã hội.

Bài toán vì thế không chỉ là bổ sung nguồn điện, mà còn là làm thế nào khơi thông dòng vốn? Làm thế nào để biến điện mặt trời mái nhà thành lợi thế cạnh tranh, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống? Và những “nút thắt” nào cần tiếp tục tháo gỡ?

Để làm rõ những điểm nghẽn và tìm lời giải cho bài toán huy động nguồn lực, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với PGS.TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, về các giải pháp hoàn thiện cơ chế, khơi thông dòng vốn tư nhân, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, qua đó đưa điện mặt trời mái nhà trở thành nguồn lực chiến lược cho tăng trưởng xanh, bền vững của Bắc Ninh.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 2
Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 3
Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 4

PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, với một địa phương công nghiệp như Bắc Ninh, điện mặt trời mái nhà không nên chỉ được nhìn như nguồn điện bổ sung, mà cần được coi là một cấu phần của hạ tầng năng lượng công nghiệp.

Áp lực điện đang hiện hữu rất rõ. Năm 2025, điện thương phẩm của thành phố đã vượt 16,6 tỷ kWh; công suất phụ tải cực đại năm 2026 vượt 3.229 MW. Trong khi các nguồn điện tập trung cần thời gian đầu tư, Bắc Ninh lại có một “mỏ năng lượng” rất lớn ngay trên các mái nhà xưởng, công sở và hộ dân.

Theo định hướng của thành phố, mục tiêu đến năm 2035 phát triển khoảng 3.392 MW điện mặt trời mái nhà, có khả năng tạo ra gần 4 tỷ kWh điện mỗi năm. Trong khi đó, đến giữa năm 2026 mới có khoảng 285 MW hoàn thành, đưa vào vận hành, tương đương khoảng 8,4% mục tiêu. Khoảng cách này cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 5

Lợi thế quan trọng của điện mặt trời mái nhà là sản xuất điện ngay tại nơi tiêu thụ. Đặc biệt tại các nhà máy, thời gian sử dụng điện lớn vào ban ngày tương đối trùng với thời gian hệ thống mặt trời phát điện tốt. Nếu được thiết kế hợp lý, nguồn điện này sẽ giúp doanh nghiệp giảm lượng điện mua từ lưới, giảm tổn thất truyền tải, chủ động hơn về năng lượng, đồng thời góp phần giảm áp lực lên hệ thống điện.

Tuy nhiên, không thể hiểu đơn giản rằng cứ có mái nhà là có thể lắp đặt. Theo tôi, Bắc Ninh cần đồng thời tháo gỡ bốn nút thắt: pháp lý và thủ tục; khả năng hấp thụ của lưới điện; vốn đầu tư; lưu trữ và điều hành hệ thống. Đặc biệt, cần xây dựng bản đồ khả năng tiếp nhận công suất đến từng khu công nghiệp, trạm biến áp, tuyến lưới để doanh nghiệp biết rõ có thể đầu tư ở đâu, quy mô bao nhiêu, tránh đầu tư xong nhưng lưới không thể tiếp nhận công suất dư.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 6

 

Thực tế cho thấy, khi cơ chế rõ và chính quyền đồng hành, nguồn lực xã hội có thể được huy động rất nhanh. Chỉ trong giai đoạn đầu, khoảng 285 MW điện mặt trời mái nhà đã thu hút khoảng 2.850 tỷ đồng vốn xã hội hóa.

Vì vậy, bài toán của Bắc Ninh hiện nay không phải thiếu mái nhà hay thiếu tiềm năng mặt trời, mà là biến diện tích mái thành những dự án có pháp lý rõ, đấu nối được, vay được vốn và tạo ra dòng điện có giá trị kinh tế. Khi tháo được những nút thắt này, điện mặt trời mái nhà mới thực sự trở thành nguồn lực phục vụ tăng trưởng công nghiệp và bảo đảm an ninh năng lượng cho thành phố.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 7

 

PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, muốn đạt mục tiêu hàng nghìn MW điện mặt trời mái nhà thì không thể chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Điều quan trọng là thiết kế cơ chế để một đồng vốn hỗ trợ của Nhà nước có thể dẫn dắt nhiều đồng vốn của doanh nghiệp, ngân hàng và người dân.

Đây cũng là cơ sở để các ngân hàng thay đổi cách thẩm định. Ngoài tài sản thế chấp, cần xem xét lịch sử tiêu thụ điện, tỷ lệ điện tự dùng, chất lượng thiết bị, hợp đồng mua bán điện và đặc biệt là dòng tiền tiết kiệm từ hóa đơn điện. Khi dự án được chuẩn hóa và dòng tiền có thể dự báo, tín dụng xanh mới có điều kiện mở rộng ở quy mô lớn.

Với hộ gia đình, hỗ trợ ngân sách nên đóng vai trò vốn “mồi”, thay vì bao cấp toàn bộ chi phí đầu tư. Bắc Ninh đã đi theo hướng này khi Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ tối đa 6 triệu đồng/hộ cho điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ. Khoản hỗ trợ tuy không lớn so với tổng vốn đầu tư nhưng có thể giảm rào cản ban đầu, kích hoạt vốn tự có và vốn vay của người dân.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 8

 

Một yếu tố rất quan trọng khác là đầu ra của điện dư. Việc cơ chế mới mở rộng khả năng bán điện dư giúp cải thiện dòng tiền và thời gian hoàn vốn. Tuy nhiên, khuyến khích bán điện phải gắn với khả năng tiếp nhận của lưới. Vì vậy, hướng đi căn cơ phải là “điện mặt trời + lưu trữ + quản lý phụ tải”.

Tôi cho rằng Bắc Ninh nên xây dựng danh mục các dự án điện mặt trời mái nhà có khả năng huy động vốn, công khai nhu cầu phụ tải, khả năng đấu nối, công suất dự kiến, nhu cầu lưu trữ và tình trạng pháp lý. Khi thông tin được chuẩn hóa, ngân hàng nhìn thấy cơ sở để cho vay, nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội và doanh nghiệp có thể tính được hiệu quả.

Muốn khơi thông hàng chục nghìn tỷ đồng vốn xã hội cho năng lượng sạch, điều quyết định không phải Nhà nước bỏ nhiều tiền hơn, mà là làm cho dự án minh bạch hơn, ít rủi ro hơn và dòng tiền có thể dự báo được.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 9

 

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 10

PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, cần nhìn điện mặt trời mái nhà của Bắc Ninh ở ba tầng giá trị: năng lượng, kinh tế và năng lực cạnh tranh xanh.

Trước hết là giá trị về an ninh năng lượng. Bắc Ninh đang là một trong những trung tâm điện tử, công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo lớn của cả nước. Nửa đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 19,51%; các khu công nghiệp thu hút khoảng 1.670 dự án FDI với tổng vốn đăng ký gần 41 tỷ USD. Quy mô công nghiệp càng lớn, yêu cầu về nguồn điện đủ, ổn định và có khả năng đáp ứng nhanh càng trở nên cấp thiết.

Điện mặt trời mái nhà không thể thay thế nguồn điện nền và hệ thống truyền tải, nhưng có thể trở thành nguồn bổ sung tại chỗ triển khai nhanh. Điện được sản xuất ngay gần nơi tiêu thụ, nhất là tại các khu công nghiệp có phụ tải lớn vào ban ngày, qua đó giảm một phần lượng điện nhận từ lưới và áp lực truyền tải.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 11

 

Thứ hai là giá trị kinh tế. Mục tiêu 3.392 MW điện mặt trời mái nhà có thể tạo ra gần 4 tỷ kWh mỗi năm. So với hơn 16,6 tỷ kWh điện thương phẩm của Bắc Ninh năm 2025, quy mô này cho thấy điện mặt trời mái nhà không còn là nguồn điện nhỏ lẻ.

Nếu phần lớn sản lượng được sử dụng trực tiếp tại nhà máy, doanh nghiệp có thể giảm lượng điện mua từ lưới, chủ động hơn về chi phí năng lượng. Khi kết hợp với BESS và quản lý phụ tải, hiệu quả còn cao hơn bởi doanh nghiệp có thể tối ưu cả sản xuất, lưu trữ và thời điểm sử dụng điện.

Thứ ba là giá trị cạnh tranh xanh. Đây là yếu tố ngày càng quan trọng khi Bắc Ninh thu hút các tập đoàn điện tử, bán dẫn và công nghệ cao tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhà đầu tư hiện không chỉ quan tâm đến đất đai, hạ tầng hay ưu đãi, mà còn đặt câu hỏi: nguồn điện có ổn định không, có tiếp cận được năng lượng sạch không, chi phí có thể dự báo không và có đáp ứng mục tiêu giảm phát thải của tập đoàn hay không?

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 12

 

Vì vậy, nếu hình thành được hệ sinh thái “khu công nghiệp - điện mặt trời mái nhà - BESS - lưới điện thông minh - quản lý phụ tải - tín dụng xanh”, Bắc Ninh có thể biến lợi thế năng lượng thành lợi thế cạnh tranh trong thu hút dòng vốn công nghệ cao.

Điều quan trọng là không tuyệt đối hóa vai trò của điện mặt trời mái nhà. Cách tiếp cận phù hợp phải là kết hợp nguồn điện tập trung với nguồn phân tán, lưới điện với lưu trữ, đầu tư công với nguồn lực tư nhân.

Khi đó, khoảng 6.800 ha mái nhà xưởng, tương đương 68 triệu m² không còn đơn thuần là diện tích xây dựng, mà có thể trở thành một tài sản năng lượng mới của nền kinh tế. Điện mặt trời mái nhà vì thế không chỉ tạo thêm kWh điện, mà còn tạo thêm dư địa tăng trưởng: năng lượng sạch hơn, chi phí chủ động hơn, sản xuất xanh hơn và sức cạnh tranh của Bắc Ninh cao hơn.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 13

 

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 14

PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, bài học quan trọng từ các mô hình thành công trên thế giới là không phát triển điện mặt trời mái nhà bằng cách Nhà nước trả tiền thay cho thị trường. Chính sách công nên đóng vai trò “vốn mồi”, giảm rủi ro ban đầu, tạo tín hiệu giá và môi trường đầu tư thuận lợi; còn quyết định đầu tư phải dựa ngày càng nhiều vào hiệu quả kinh tế của chính dự án.

Điều này đặc biệt phù hợp với Bắc Ninh - địa phương có mật độ công nghiệp cao, nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa phát triển điện mặt trời mái nhà còn lớn. Theo tôi, Thành phố nên tập trung vào 5 nhóm công cụ kinh tế.

Thứ nhất, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tín dụng xanh và chia sẻ rủi ro. Kinh nghiệm của Đức cho thấy, Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp bỏ vốn đầu tư mà có thể sử dụng các công cụ tín dụng để kéo nguồn lực xã hội vào năng lượng tái tạo.

Bắc Ninh cũng không cần lập một quỹ ngân sách lớn để cho doanh nghiệp vay trực tiếp. Hiệu quả hơn là phối hợp với ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính xanh và các định chế tài chính hình thành các gói tín dụng dành cho điện mặt trời mái nhà và BESS. Ngân sách nếu tham gia, chỉ nên hỗ trợ có mục tiêu một phần lãi suất, bảo lãnh tín dụng hoặc chi phí kiểm toán kỹ thuật trong giai đoạn đầu.

Đồng thời, cần khuyến khích các mô hình ESCO, thuê mái, thuê hệ thống hoặc hợp đồng mua điện dài hạn. Khi đó, doanh nghiệp sản xuất không nhất thiết phải bỏ ngay khoản vốn lớn để sở hữu hệ thống; nhà đầu tư tư nhân có thể bỏ vốn, vận hành và thu hồi vốn từ dòng tiền bán điện. Một đồng ngân sách vì thế có thể dẫn dắt nhiều đồng vốn xã hội.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 15

Thứ hai, cần sử dụng tín hiệu giá để khuyến khích đầu tư điện mặt trời đi kèm lưu trữ. Kinh nghiệm California cho thấy, khi giá trị điện thay đổi theo thời điểm cung cấp cho hệ thống, người sử dụng có động lực tích điện khi dư thừa và sử dụng hoặc phát điện vào thời điểm nhu cầu cao. Sau khi cơ chế giá mới được áp dụng, tỷ lệ hệ thống điện mặt trời lắp kèm pin lưu trữ tại California đã tăng rất mạnh.

Bài học ở đây là tín hiệu giá đúng đôi khi hiệu quả hơn trợ cấp lớn. Bắc Ninh không có thẩm quyền tự xây dựng biểu giá điện riêng, nhưng có thể phối hợp với Bộ Công Thương, EVN và ngành điện triển khai các mô hình quản lý phụ tải, công tơ thông minh, phản ứng nhu cầu và điện mặt trời kết hợp lưu trữ tại các khu công nghiệp.

Thứ ba, chính sách cần chuyển từ khuyến khích “solar” sang “solar + storage”. Điện mặt trời giải quyết tốt nhu cầu ban ngày nhưng không tự giải quyết được chênh lệch cung cầu vào các thời điểm khác. Vì vậy, câu hỏi không nên chỉ là lắp thêm bao nhiêu MW điện mặt trời, mà phải tính đến bao nhiêu MW điện sạch có thể được lưu trữ và dịch chuyển sang đúng thời điểm hệ thống cần.

Australia đang áp dụng hỗ trợ pin lưu trữ theo hướng có thời hạn và giảm dần khi chi phí công nghệ giảm. Bắc Ninh không nhất thiết sao chép mức hỗ trợ, nhưng có thể học nguyên tắc: hỗ trợ đúng công nghệ hệ thống điện cần, có thời hạn và giảm dần, tránh tạo tâm lý chờ trợ cấp.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 16

 

Thứ tư, phải biến điện dư thành một hàng hóa có thị trường, nhưng giá mua phải phản ánh giá trị của điện chứ không trở lại cơ chế FIT cố định dài hạn. Cơ chế hiện hành đã mở rộng đáng kể khả năng bán điện dư từ điện mặt trời mái nhà, qua đó cải thiện dòng tiền và thời gian hoàn vốn của dự án.

Tuy nhiên, không nên quay trở lại tư duy cứ phát điện là hệ thống phải mua. Điện dư chỉ thực sự có giá trị khi lưới có khả năng tiếp nhận và hệ thống cần nguồn điện đó. Vì vậy, Bắc Ninh cần xây dựng bản đồ khả năng tiếp nhận điện mặt trời mái nhà đến từng khu công nghiệp, trạm biến áp và khu vực lưới điện. Doanh nghiệp cần biết trước nơi nào còn khả năng đấu nối, quy mô bao nhiêu và khu vực nào cần đầu tư thêm BESS. Minh bạch những thông tin này sẽ giảm đáng kể rủi ro cho nhà đầu tư và ngân hàng.

Thứ năm, Nhà nước nên đầu tư cho hạ tầng thị trường thay vì hỗ trợ từng tấm pin. Theo tôi, ngân sách nên ưu tiên cho ba loại “hạ tầng mềm”: cơ sở dữ liệu về tiềm năng mái nhà và khả năng tiếp nhận của lưới; hệ thống đo đếm, công tơ và dữ liệu số; cơ chế một cửa về thủ tục, đấu nối và đăng ký nguồn điện.

Bắc Ninh đã có bước khởi đầu khi đưa sử dụng năng lượng tái tạo vào định hướng phát triển khu công nghiệp xanh và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư điện mặt trời mái nhà. Nhưng bước tiếp theo phải đi xa hơn: không chỉ giao chỉ tiêu doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu phần trăm năng lượng tái tạo, mà phải tạo một thị trường khiến doanh nghiệp tự thấy đầu tư điện sạch là có lợi.

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 17

 

Nói ngắn gọn, cơ chế cần được thiết kế thành một chuỗi: tín dụng xanh giảm chi phí vốn; tín hiệu giá tạo động lực đầu tư; BESS đưa điện đến thời điểm có giá trị cao; cơ chế mua điện dư tạo thêm dòng tiền; ESCO và nhà đầu tư tư nhân cung cấp vốn; ngân sách đóng vai trò “vốn mồi”.

Khi chuỗi này vận hành, điện mặt trời mái nhà sẽ không còn là chương trình phải liên tục dựa vào hỗ trợ ngân sách, mà trở thành một thị trường năng lượng phân tán: doanh nghiệp đầu tư vì có hiệu quả, ngân hàng cho vay vì dự án có dòng tiền, người dân tham gia vì giảm chi phí điện và hệ thống điện được hưởng lợi.

Theo tôi, đó mới là cách phát triển bền vững: Nhà nước không trả tiền để có thật nhiều tấm pin trên mái nhà; Nhà nước tạo luật chơi để mỗi kWh điện sạch được sản xuất, lưu trữ và sử dụng đúng lúc, ở nơi có giá trị cao nhất đối với nền kinh tế.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 18

 

Đảm bảo điện cho tăng trưởng ở Bắc Ninh - Bài 4: Khơi thông nguồn lực  - 19

 

Có thể bạn quan tâm