Ngày 31/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dự kiến kế hoạch năm 2027 cùng các nội dung về ngân sách nhà nước, đầu tư công.
Tại phiên thảo luận, đại biểu Đoàn Thị Lê An và Nguyễn Thị Việt Nga đã thảo luận những vấn đề liên quan đến phát triển hạ tầng logistics, tăng cường kết nối hạ tầng nhằm phát huy lợi thế kinh tế cửa khẩu, cảng biển và công nghiệp.
Hoàn thiện cơ chế, khơi thông nguồn lực phát triển logistics
Tham gia thảo luận, đại biểu Đoàn Thị Lê An (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng) cho biết, Cao Bằng có các cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, Trà Lĩnh cùng tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh đang được đầu tư, mở ra cơ hội tăng cường kết nối giao thương với Trung Quốc và khu vực ASEAN. Tuy nhiên, địa hình chia cắt, quỹ đất bằng hạn chế, chi phí hạ tầng cao cùng những vướng mắc trong chuẩn bị đất đai và thủ tục đầu tư đang ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa lợi thế thành động lực phát triển.
Từ thực tiễn địa phương, đại biểu kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế cửa khẩu tại các tỉnh miền núi, biên giới, tập trung vào hai vấn đề gồm tạo lập quỹ đất sạch và lựa chọn nhà đầu tư.
Đại biểu Đoàn Thị Lê An, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng.
Theo đại biểu Đoàn Thị Lê An, những khu vực thuận lợi cho phát triển logistics, kho bãi, thương mại tại Cao Bằng thường đan xen đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất ở. Theo tổng hợp của địa phương, thời gian chuẩn bị đối với một số dự án có thể kéo dài từ 1,5 đến 2 năm, trong khi nhà đầu tư cần mặt bằng sẵn sàng để triển khai.
Vì vậy, đại biểu kiến nghị Chính phủ rà soát quy định hiện hành, nghiên cứu trình Quốc hội cơ chế thí điểm tạo lập quỹ đất sạch tại một số khu chức năng ưu tiên trong khu kinh tế cửa khẩu trên cơ sở quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 đã được phê duyệt.
Theo đại biểu, cơ chế thí điểm cần giới hạn rõ phạm vi áp dụng, ưu tiên các dự án hạ tầng logistics, kho bãi và công trình có vai trò quan trọng. Đồng thời, cần xác định cụ thể căn cứ phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, xây dựng danh mục dự án, phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư và nguồn vốn thực hiện.
Đại biểu cũng đề nghị công khai tiến độ thực hiện, phương án khai thác quỹ đất và tăng cường giám sát việc sử dụng đất sau thu hồi. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của các bên liên quan khi dự án chậm triển khai, gây lãng phí nguồn lực.
Đối với cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, đại biểu Đoàn Thị Lê An cho rằng các khu kinh tế cửa khẩu miền núi rất cần doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm và khả năng tổ chức chuỗi dịch vụ. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cao và thời gian thực hiện thủ tục kéo dài đang làm giảm sức hấp dẫn của các dự án.
Trên cơ sở quy định tại Điều 23 và Điều 28 Luật Đầu tư năm 2025, đại biểu kiến nghị nghiên cứu cơ chế lựa chọn nhà đầu tư chiến lược đối với một số dự án hạ tầng logistics, kho bãi, thương mại có tác động lan tỏa lớn.
Đồng thời, đại biểu cho rằng không nên miễn đấu giá, đấu thầu chỉ dựa trên mức vốn đăng ký từ 500 tỷ đồng trở lên, bởi vốn đăng ký chưa đủ để chứng minh năng lực thực hiện và hiệu quả của dự án.
Theo đó, cơ chế đặc thù cần xác định rõ danh mục, tiêu chí dự án ưu tiên; đánh giá năng lực tài chính, kinh nghiệm, tiến độ giải ngân, khả năng kết nối nguồn hàng, tạo việc làm và đóng góp cho địa phương. Việc lựa chọn phải được công khai, giám sát cam kết và xử lý vi phạm. Trường hợp có nhiều nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu, cần lựa chọn cạnh tranh phù hợp.
Đại biểu Đoàn Thị Lê An cũng kiến nghị Chính phủ liên thông các thủ tục về đầu tư, đất đai và xây dựng, xác định rõ đầu mối, thời hạn giải quyết để rút ngắn thời gian triển khai dự án.
Từ những vấn đề trên, đại biểu đề nghị Chính phủ sớm chỉ đạo tháo gỡ ngay vướng mắc thuộc thẩm quyền về tạo quỹ đất, thủ tục đầu tư và phát triển logistics cửa khẩu. Quốc hội xem xét cơ chế phù hợp với đặc thù miền núi, biên giới; những nội dung cần khác luật hiện hành có thể thí điểm có thời hạn, có tiêu chí, giám sát và tổng kết.
“Chúng tôi mong muốn mỗi cửa khẩu sẽ trở thành điểm kết nối thương mại, dịch vụ và sản xuất, mang lại việc làm, sinh kế cho nhân dân, qua đó gắn phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia”, đại biểu Đoàn Thị Lê An nêu ý kiến.
Tăng cường kết nối cảng biển, công nghiệp và logistics
Từ thực tiễn Hải Phòng, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng) đề nghị Chính phủ quan tâm bảo đảm quy hoạch kinh tế biển có sự lựa chọn, phân công và liên kết rõ ràng. Theo đại biểu, mỗi địa phương ven biển có tiềm năng, lợi thế và năng lực phát triển khác nhau, vì vậy quy hoạch cần làm rõ những khác biệt để xác định chức năng, quy mô và thứ tự ưu tiên đầu tư.
“Nếu nhiều địa phương cùng phát triển những mô hình tương tự, cùng đề xuất các trung tâm quy mô lớn mà thiếu tính toán về thị trường và khả năng kết nối, chúng ta có thể phân tán nguồn lực, trùng lặp đầu tư và khó hình thành những trung tâm đủ sức cạnh tranh quốc tế”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nêu ý kiến.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng.
Để khắc phục tình trạng này, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị Chính phủ bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch ngành. Đồng thời, cần xác định rõ những trung tâm động lực, chuỗi liên kết và công trình hạ tầng ưu tiên trên cơ sở lợi thế tổng hợp, hiệu quả đầu tư, sức lan tỏa và sức chịu tải của môi trường.
Theo đại biểu, với Hải Phòng, nền tảng cảng biển, công nghiệp và kinh nghiệm phát triển kinh tế biển là điều kiện để phát huy vai trò trung tâm hàng hải, logistics và cửa ngõ giao thương của miền Bắc. Sau hợp nhất, sự kết nối giữa không gian sản xuất công nghiệp với hệ thống cảng biển càng cần được tổ chức đồng bộ. Việc đầu tư vào các công trình kết nối này không chỉ mang lại lợi ích cho Hải Phòng mà còn tạo động lực phát triển cho cả vùng.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, khi phân bổ nguồn lực, Chính phủ cần xem xét đầy đủ phạm vi hưởng lợi từ công trình, xác định rõ trách nhiệm của Trung ương và địa phương, đồng thời đánh giá khả năng huy động các nguồn lực xã hội.