Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công số sáng 3/9, CPI tháng 8 tăng 0,47% so với tháng trước, trong đó có 10 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng; 1 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm. 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, gồm:
Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% so với tháng trước. Trong đó, giá sách, báo, tạp chí các loại tăng 0,27%; du lịch trong nước tăng 0,20%; thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,19%; đồ chơi tăng 0,15%; khách sạn tăng 0,06%. Ở chiều ngược lại, vé thuê chỗ chơi thể thao giảm 0,09%; du lịch ngoài nước giảm 0,24%; xem phim, ca nhạc giảm 1,02%.
Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05% do giá một số loại thuốc tăng nhẹ khi chi phí nguyên liệu đầu vào tăng.
Tốc độ tăng CPI tháng 8 năm 2026 so với tháng trước (%).
Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,08% so với tháng trước. Trong đó, giá máy điện thoại di động thông thường tăng 1,24%; máy điện thoại cố định tăng 0,53%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,19%; sửa chữa điện thoại tăng 0,18%; dịch vụ viễn thông tăng 0,11%. Ở chiều ngược lại, giá ti vi màu giảm 0,32%; phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,08%; máy vi tính và phụ kiện giảm 0,03%.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10% so với tháng trước, chủ yếu do giá thuê nhà tăng 0,07%; dầu hỏa tăng 4,63%; gas tăng 4,19%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,03%. Ở chiều ngược lại, giá điện sinh hoạt giảm 1,33%, giá nước sinh hoạt giảm 0,32%.
Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,11% so với tháng trước do nhu cầu mua sắm chuẩn bị năm học mới tăng. Trong đó, giá mũ nón tăng 0,27%; vải các loại tăng 0,18%; giày, dép tăng 0,11%; quần áo may sẵn tăng 0,09%; dịch vụ giày, dép tăng 0,65%; dịch vụ may mặc tăng 0,48%.
Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12% do nhu cầu tiêu dùng cùng với chi phí nguyên liệu sản xuất đầu vào tăng. Trong đó, giá nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,52%; nước khoáng tăng 0,34%; thuốc hút tăng 0,24%; rượu các loại tăng 0,18%; nước quả ép tăng 0,10%; bia các loại tăng 0,06%. Riêng giá nước giải khát có ga giảm 0,14%.
Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15% so với tháng trước, trong đó: Giá máy dùng điện cho chăm sóc cá nhân tăng 0,75%; sửa chữa đồng hồ đeo tay, sửa chữa đồ trang sức tăng 0,50%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,49%; dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 0,33%; dịch vụ về hiếu, hỷ tăng 0,21%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,19%. Ngược lại, giá đồ trang sức giảm 0,50%; túi xách, va ly, ví giảm 0,44%; dịch vụ hành chính, pháp lý giảm 0,35%.
CPI 8 tháng tăng 4,45%
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19% so với tháng trước, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công sản xuất tăng. Trong đó, giá vật phẩm tiêu dùng khác tăng 0,33%; tủ lạnh, đồ dùng nấu ăn và hàng thủy tinh, sành, sứ cùng tăng 0,27%; đồ điện và xà phòng, chất tẩy rửa cùng tăng 0,20%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,13%; đồ dùng bằng kim loại và đồ nhựa, cao su cùng tăng 0,07%; hàng dệt trong nhà tăng 0,05%; dịch vụ sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,34%; dịch vụ trong gia đình tăng 0,18%.
Ở chiều ngược lại, giá bàn là điện giảm 0,92%; gương treo tường giảm 0,70%; máy đánh trứng giảm 0,50%; máy giặt giảm 0,35%; bình nước nóng nhà tắm giảm 0,10%.
Nhóm giáo dục tăng 0,47% so với tháng trước, trong đó: Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,57%; giá sản phẩm từ giấy tăng 0,37%; bút viết các loại tăng 0,34%; văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,29%.
Mặt bằng giá 8 tháng duy trì ổn định, CPI tăng 4,45%.
Nhóm giao thông tăng 4,09% so với tháng trước (tác động làm CPI chung tăng 0,41 điểm phần trăm), chủ yếu do chỉ số giá dầu diesel tăng 22,15%; giá xăng tăng 9,53% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. Bên cạnh đó, giá nhóm phụ tùng tăng 0,11%; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,40%...
Ở chiều ngược lại, giá vận tải hành khách bằng đường sắt giảm 9,86%; vận tải hành khách bằng đường hàng không giảm 0,81%; vận tải hành khách bằng xe buýt giảm 0,29%; giá xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,63%; xe ô tô mới giảm 0,50%; xe máy giảm 0,18%.
Riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03% so với tháng trước (góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm), trong đó: Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,05%; lương thực giảm 0,04%; dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,01%.
CPI bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,71% (làm CPI chung tăng 1,52 điểm phần trăm); giao thông tăng 5,38% (làm CPI chung tăng 0,54 điểm phần trăm); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76% (làm CPI chung tăng 1,70 điểm phần trăm).
Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,46% (làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm); đồ uống và thuốc lá tăng 3,67% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm); giáo dục tăng 3,42% (làm CPI chung tăng 0,2 điểm phần trăm); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,79% (làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,71%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,08%; thông tin và truyền thông tăng 0,09%.
Lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 4,55% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,45% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.
Giá USD trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế tháng 8 (tính đến ngày 25/8/2026) đạt mức 99,65 điểm, giảm 1,17 điểm so với tháng 7 chủ yếu do đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế trong bối cảnh kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Mỹ thay đổi và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm.