Longform
03/09/2026 20:18
Dữ liệu Công Thương

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa

Thứ Năm, 03/09/2026 20:18:47 +07:00

(Công Thương) - Đằng sau con số kỷ lục xuất nhập khẩu là 17 hiệp định thương mại tự do đang thực thi, hiệp định mới nhất là CEPA Việt Nam UAE có hiệu lực từ 3/2/2026. Nhưng tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan chung mới ở mức 37,35% trong khi 78,7% kim ngạch xuất khẩu vẫn dồn vào 6 thị trường. Mạng lưới hiệp định rộng cần một cách làm sâu.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 1

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 2

 

Tính tới tháng 8/2026, Việt Nam có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đang thực thi, bao phủ hơn 80% GDP toàn cầu, theo phát biểu của Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân tại Lễ công bố FTA Index 2025 ngày 18/8/2026. Danh mục 19 hiệp định do Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI) tổng hợp tới tháng 2/2026, cho thấy bức tranh nhiều lớp: 11 hiệp định thế hệ cũ, khởi đầu là Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN bắt đầu thực hiện từ năm 1993 mà nay hàng hoá được điều chỉnh bằng Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN, gần nhất là AHKFTA với Hồng Kông (Trung Quốc) ngày 11/6/2019; 6 hiệp định thế hệ mới từ CPTPP (14/1/2019), EVFTA (1/8/2020), UKVFTA (1/5/2021), RCEP (1/1/2022), VIFTA với Israel (15/10/2024) tới CEPA với UAE (3/2/2026); 2 hiệp định đang đàm phán là Việt Nam với khối EFTA và ASEAN với Canada.

Đàm phán mới cũng đang hướng sang Nam Mỹ: tại Kỳ họp lần IV Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam Uruguay ngày 18/8/2026, hai bên cam kết nỗ lực để vòng đàm phán đầu tiên Hiệp định Thương mại Ưu đãi (PTA) Việt Nam MERCOSUR diễn ra thành công. Năm 2026 Việt Nam cũng đảm nhận vai trò Chủ tịch luân phiên Hội đồng CPTPP; Phiên họp Hội đồng CPTPP cấp Bộ trưởng lần thứ 11 dự kiến diễn ra tháng 11/2026 tại Việt Nam, theo lời mời Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng gửi Bộ trưởng Thương mại và Đầu tư New Zealand ngày 13/8/2026.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 3

 

Số hiệp định vì thế không còn là chỗ thiếu. Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nói rõ tại lễ công bố FTA Index: nếu giai đoạn trước trọng tâm là đàm phán và mở rộng mạng lưới FTA thì giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ quan trọng không kém là nâng cao chất lượng thực thi, chuyển hoá cam kết thành kết quả cụ thể của từng địa phương và từng doanh nghiệp.

Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 giao ngành Công Thương chỉ tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng 15 tới 16%, đồng thời đặt yêu cầu đa dạng hoá thị trường xuất khẩu. Kết luận 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV nói rõ hơn về chất: mở rộng và đa dạng hoá thị trường, ưu tiên sản phẩm có giá trị gia tăng cao và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị. Mười bảy hiệp định là công cụ để làm việc đó. Tỷ lệ tận dụng là thước đo công cụ ấy đang được dùng tới đâu.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 4

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 5

 

Thước đo trực tiếp nhất của thực thi FTA là tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu được cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi. Bộ số kế thừa tổng hợp từ công bố của Bộ Công Thương và Cục Xuất nhập khẩu ghi tỷ lệ tận dụng ưu đãi tính chung các FTA là 37,35% tổng kim ngạch xuất khẩu. Chênh lệch giữa các hiệp định rất lớn: C/O mẫu AI sang Ấn Độ theo AIFTA đạt 65,12% (2024), mẫu E sang Trung Quốc theo ACFTA 41,84%, mẫu D nội khối ASEAN 40,11%, UKVFTA khoảng 36% (2024), EVFTA khoảng 35,1%, đều là số năm 2024 theo công bố của Bộ Công Thương và Cục Xuất nhập khẩu tổng hợp trong bộ số kế thừa của Báo. Nói cách khác, các hiệp định thế hệ cũ với thị trường châu Á đang được khai thác tốt hơn nhiều so với hai hiệp định thế hệ mới có quy mô lớn nhất về số thành viên.

Có hai lý do khiến tỷ lệ thấp không đồng nghĩa với “bỏ phí” hoàn toàn. Thứ nhất, theo nhận định của Nhóm phóng viên Công Thương, với nhiều thị trường CPTPP và RCEP, doanh nghiệp có thể chọn hưởng ưu đãi qua hiệp định song phương hoặc ASEAN cộng sẵn có, nên C/O CPTPP chỉ là một trong nhiều kênh hưởng ưu đãi; số liệu kế thừa chưa tách được phần này. Thứ hai, năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ rất chênh lệch theo quy mô doanh nghiệp: bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Da giày Túi xách Việt Nam, cho biết nhóm doanh nghiệp có kinh nghiệm xuất khẩu có thể đáp ứng yêu cầu CPTPP tới 90%, nhưng doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế về quản trị, chứng từ và truy xuất nguyên phụ liệu.

Khối lượng hồ sơ C/O đang tăng nhanh cùng lúc với việc phân cấp. Theo cổng Bộ Công Thương ngày 17/8/2026, từ 1/1 tới 17/8/2026 tổng số C/O được tiếp nhận là hơn 1.600.000 bộ hồ sơ; từ 1/7/2025 tới 1/8/2026 khoảng 80% hồ sơ vẫn thực hiện tại các cơ quan cấp thuộc Cục Xuất nhập khẩu, khoảng 20% tại 34 cơ quan, tổ chức cấp ở địa phương; nhưng trong 15 ngày đầu tháng 8/2026, khi Thông tư 26/2026/TT-BCT có hiệu lực và Bộ chỉ còn cấp 12 mẫu C/O, tỷ lệ hồ sơ cấp tại địa phương đã tăng khoảng 2 lần so với 7 tháng đầu năm.

Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh đang tiếp nhận 9.056 hồ sơ, hơn 50% từ doanh nghiệp tỉnh khác; Sở Công Thương Hà Nội nhận 2.576 hồ sơ, 43% ngoài Hà Nội, dự kiến có thể lên 1.500 hồ sơ mỗi ngày (cùng nguồn). Áp lực ấy giải thích vì sao Cục Xuất nhập khẩu phải họp gỡ vướng ngay giữa tháng 8: hồ sơ trả đi trả lại, hệ thống điện tử quá tải, cán bộ địa phương phải làm cả cuối tuần.

Trong công văn góp ý Dự thảo Chiến lược ngành Công Thương gửi ngày 3/8/2026, Báo Công Thương đã đề nghị đưa tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA thành chỉ tiêu chính thức: 55% vào năm 2030 và 70% vào năm 2035, từ nền 37,35%.

Một đề nghị như vậy chỉ có sức nặng nếu nói rõ mẫu số. Con số 37,35% được công bố trên mẫu số là tổng kim ngạch xuất khẩu, chứ không phải riêng kim ngạch sang các thị trường đã có hiệp định. Cách tính ấy có một hệ quả cần nói thẳng: trần của chỉ tiêu không phải 100%. Hoa Kỳ hiện nhận khoảng một phần ba kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, cụ thể là 123,5 tỷ USD trong 8 tháng trên tổng 374,0 tỷ USD, tức 33% mà hai nước chưa có hiệp định thương mại tự do nên hàng đi thị trường này không thuộc diện xin C/O ưu đãi. Trừ riêng phần ấy, phần kim ngạch về nguyên tắc có thể hưởng ưu đãi chỉ còn khoảng hai phần ba tổng, chưa kể các thị trường khác cũng chưa có hiệp định.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 6

Cảng biển Đình Vũ Hải Phòng: Khẳng định vị thế trên bản đồ hàng hải quốc tế

Đặt hai vế cạnh nhau thì thấy độ khó thật của chỉ tiêu. Muốn đạt 55% trên tổng kim ngạch với cơ cấu thị trường như hiện nay, tỷ lệ tận dụng trong phần kim ngạch có hiệp định phải lên cao hơn hẳn mức tốt nhất mà một hiệp định của Việt Nam từng đạt là 65,12% của mẫu AI sang Ấn Độ, theo số liệu năm 2024 do Bộ Công Thương cùng Cục Xuất nhập khẩu công bố đã dẫn ở trên. Vì thế khi đưa chỉ tiêu này vào Chiến lược, cần ghi rõ mẫu số ngay trong văn bản, kèm giả định về cơ cấu thị trường. Một chỉ tiêu không ghi mẫu số là một chỉ tiêu không kiểm đếm được.

Khoảng cách ấy đã được nêu ở cấp Chính phủ. Tại Lễ công bố Bộ chỉ số FTA Index 2025 ngày 18/8/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhận định “quá trình đàm phán để ký kết các FTA đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng sau khi FTA được ký kết, việc tận dụng các cam kết và lợi thế từ các hiệp định vẫn chưa đạt như kỳ vọng”. Cũng tại lễ công bố ấy, Phó Thủ tướng nêu rõ “mục tiêu cuối cùng của FTA Index không phải tạo thêm một bảng xếp hạng hay một bộ chỉ số đánh giá chuyên ngành, mà hướng tới nâng cao chất lượng quản trị, năng lực thực thi và khả năng phát triển, hội nhập của các địa phương.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 7

 

Câu hỏi tự nhiên nhất khi đọc con số 37,35% là các nước khác đạt bao nhiêu. Bài này chưa trả lời được bằng một con số so sánh. Vì sao thì sẽ nói rõ ở cuối mục. Nhưng có một câu trả lời khác, ở tầng phương pháp, đáng giá hơn một phép so đơn thuần.

Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển theo dõi tỷ lệ tận dụng ưu đãi thương mại từ năm 1976 và duy trì một cơ sở dữ liệu riêng về việc này. Đánh giá của cơ quan này về hiện tượng tận dụng thấp đáng để đọc kỹ: với người hoạch định chính sách, tỷ lệ tận dụng thấp của các ưu đãi hiện hành là một tín hiệu cho thấy bản thân thiết kế của những ưu đãi ấy có thể chưa phù hợp, bởi doanh nghiệp không dùng được một cách hiệu quả chính các hiệp định mà chính phủ đã đàm phán. Với doanh nghiệp, việc phải tuân thủ nhiều bộ quy tắc xuất xứ khác nhau của từng hiệp định là một khoản chi phí đáng kể.

Nhận định ấy đổi hẳn cách đọc con số 37,35%. Một tỷ lệ tận dụng thấp thường được diễn giải thành doanh nghiệp chưa biết tận dụng, tức lỗi nằm ở phía doanh nghiệp. Cách đọc thứ hai đặt câu hỏi ngược lại: nếu cứ mở thêm hiệp định mà mỗi hiệp định lại kèm một bộ quy tắc xuất xứ riêng, thì chi phí tuân thủ cộng dồn có thể lớn tới mức chính nó triệt tiêu phần ưu đãi.

Trang tổng hợp nghiên cứu về tận dụng ưu đãi và quy tắc xuất xứ của Tổ chức Thương mại Thế giới là một thư mục bài nghiên cứu, không công bố số theo nước; cơ sở dữ liệu nói trên của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển theo dõi ưu đãi thuế quan phổ cập chứ không phải hiệp định song phương, chỉ tính hàng nhập của bốn nền kinh tế Canada, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ, lại dừng ở mốc năm 2020; các số lẻ khác tìm được đều thuộc tài liệu hội thảo hoặc bài nghiên cứu riêng lẻ, không phải công bố của cơ quan thống kê hay định chế đa phương.

Nguyên tắc của tuyến bài này là mọi phép so quốc tế phải dựa trên nguồn cấp một và cùng phương pháp đo. Tận dụng ưu đãi là chỉ tiêu đặc biệt khó so, vì mỗi nước có số hiệp định khác nhau, cơ cấu hàng hoá khác nhau và cách tính tỷ lệ khác nhau: có nước tính trên kim ngạch đủ điều kiện hưởng ưu đãi, có nước tính trên tổng kim ngạch xuất khẩu. Một phép so làm ẩu ở đây sẽ sai nhiều hơn là soi sáng.

Vì vậy bài giữ nguyên cách đọc dựa trên chính bộ số của Việt Nam, kèm ghi nhận đây là một khoảng trống cần lấp.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 8

 

Con số tận dụng ưu đãi 37,35% nói lên điều gì? Có một đánh giá quốc tế đặt đúng tên cho hiện tượng ấy.

Trong Báo cáo Việt Nam 2045: Nâng cấp thương mại trong một thế giới đang đổi thay, Ngân hàng Thế giới ghi nhận chính sách thương mại của Việt Nam đã đạt mức tự do hoá thuế quan lớn cùng một mạng lưới hiệp định phủ gần 90% GDP toàn cầu. Nhưng ngay sau lời ghi nhận ấy, báo cáo nhận xét rằng chiến lược hiệp định thương mại tự do của Việt Nam tập trung vào bề rộng hơn là bề sâu.

Nhận xét ấy khớp chính xác với ba con số đã nêu ở mục trên. Mười bảy hiệp định là bề rộng. Tận dụng ưu đãi chung 37,35%. Báo cáo đề xuất năm nhóm việc để nâng cấp vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Riêng nhóm hội nhập thương mại có mấy hướng đáng chú ý vì đều nằm trong thẩm quyền ngành Công Thương: đi xa hơn việc giảm thuế quan để xử lý các rào cản phi thuế; tự do hoá thương mại dịch vụ; khai thác thị trường tầng lớp trung lưu đang lớn lên ở châu Á; chủ động tham gia định hình khuôn khổ thương mại khu vực và toàn cầu thay vì chỉ tiếp nhận; đi sâu hơn vào các cam kết về thương mại số, hài hoà tiêu chuẩn và kết nối.

Cần nói rõ mốc thời gian: báo cáo này công bố ngày 15/4/2025, tức trước mốc số liệu 8 tháng năm 2026 mà tuyến bài đang bàn. Nó không đánh giá kết quả của năm nay. Nhưng nhận xét về bề rộng và bề sâu thì vẫn đúng phần chính.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 9

 

17 hiệp định thương mại tự do đã đưa độ mở của nền kinh tế tới mức nào? Ngân hàng Thế giới có một thước đo trực tiếp cho câu hỏi ấy, là tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ so với GDP.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 10

 

Con số 98,24% nghĩa là kim ngạch xuất khẩu gần bằng toàn bộ quy mô nền kinh tế, gấp 3,3 lần mức trung bình thế giới và gấp 4,7 lần Trung Quốc. Trong nhóm tám nền kinh tế đối chiếu, Việt Nam mở nhất, bỏ xa nước đứng thứ hai tới 27 điểm phần trăm.

Đọc theo luận điểm của Adam Smith nêu ở trên thì đây là bằng chứng cho thấy 17 hiệp định đã thật sự mở rộng thị trường, chứ không chỉ nằm trên giấy. Quy mô thị trường mà doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận được lớn hơn nhiều lần quy mô thị trường trong nước.

Nhưng cùng con số ấy đọc theo chiều ngược lại thì là mức độ phụ thuộc. Một nền kinh tế có kim ngạch xuất khẩu gần bằng GDP thì mọi biến động của cầu bên ngoài đều truyền thẳng vào trong, gần như không có lớp đệm. Đó chính là lý do vì sao tuyến bài này phải đặt mọi con số của Việt Nam cạnh bức tranh toàn cầu. Đó cũng là lý do vì sao việc đa dạng hoá thị trường, bàn ở mục sau, không phải là lựa chọn mà là điều kiện an toàn.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 11

 

Vì sao phải mở thêm thị trường khi 78,7% xuất khẩu đã dồn vào 6 thị trường lớn và guồng máy vẫn chạy tốt?

Câu trả lời có từ năm 1776. Trong An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations (Khảo luận về bản chất và nguyên nhân của sự giàu có của các quốc gia), Quyển I Chương III, Adam Smith đặt tên cho chương ấy là “phân công lao động bị giới hạn bởi quy mô thị trường”. Nguyên văn luận điểm: “Quy mô của sự phân công lao động này luôn bị giới hạn bởi quy mô của năng lực trao đổi, hay nói cách khác, bởi quy mô của thị trường”. Lập luận của Smith rất giản dị: khi thị trường quá nhỏ, không ai có động cơ dốc toàn bộ sức mình vào một nghề duy nhất, vì không bán được phần dôi ra ngoài nhu cầu bản thân.

Smith viết câu đó cho nước Anh thế kỷ 18, thời chưa có hiệp định thương mại tự do nào theo nghĩa hôm nay. Nhưng đặt vào bối cảnh 17 hiệp định đang thực thi với hơn 80% GDP toàn cầu thì luận điểm ấy chuyển thành một câu hỏi cụ thể: dư địa thị trường mà 17 hiệp định mở ra có được chuyển thành trình độ chuyên môn hoá cao hơn hay không.

Con số tận dụng ưu đãi đang trả lời rằng chưa. Tỷ lệ tận dụng chung 37,35%. Thị trường đã mở rộng trên giấy tờ nhưng phần lớn hàng hoá vẫn đi ra ngoài mà không dùng tới cánh cửa ưu đãi. Cần một vế cân bằng ngay tại đây để không đọc quá con số: không dùng C/O ưu đãi hoàn toàn không đồng nghĩa với không vào được thị trường. Phần lớn kim ngạch sang Hoa Kỳ, thị trường lớn nhất, vốn đi theo thuế suất tối huệ quốc vì hai nước chưa có hiệp định, nên phần hàng ấy không nằm trong diện xin ưu đãi ngay từ đầu. Điều con số 37,35% đo được là mức khai thác mạng lưới hiệp định, không phải mức tiếp cận thị trường. Theo cách đọc của Smith, đó là tình huống quy mô thị trường thực tế nhỏ hơn nhiều so với quy mô thị trường danh nghĩa, nên áp lực chuyên môn hoá cũng yếu tương ứng.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 12

 

Điều này gắn thẳng với một con số khác của tuyến bài: tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước tụt về 19,8%. Cánh cửa mở rộng chủ yếu phục vụ khu vực có vốn nước ngoài, vốn đã nằm sẵn trong chuỗi phân công toàn cầu. Phần doanh nghiệp nội địa, đối tượng cần nhất việc mở rộng thị trường để nâng trình độ phân công, lại là phần tận dụng được ít nhất.

Bảy mươi hai năm sau Adam Smith, C. Mác và Ph. Ăngghen viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thị trường mà việc tìm ra châu Mỹ đã chuẩn bị sẵn”. Hai ông nêu tiếp một vế mà Smith chưa có điều kiện quan sát: thị trường thế giới ấy làm cho “sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”, tức là ở luận điểm của hai ông, mỗi nền kinh tế từ đó trở đi không còn một mình quyết định mình sản xuất cái gì.

Đặt cạnh nhau, hai luận điểm cho một cách đọc khác về con số 37,35%. Smith trả lời câu hỏi vì sao phải mở cửa: quy mô thị trường quyết định trình độ phân công. Mác và Ăngghen trả lời câu hỏi tiếp theo: mở rồi thì đứng ở đâu trong phân công quốc tế. 17 hiệp địinh đã giải xong vế thứ nhất. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi 37,35% cùng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước cho thấy vế thứ hai còn hạn chế.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đặt đúng vế thứ hai ấy thành nhiệm vụ, khi yêu cầu “chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao”. Chữ gia công trong câu ấy chính là chỗ mà tỷ lệ tận dụng ưu đãi thấp đang chỉ ra bằng con số.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 13

 

Luận điểm 250 năm tuổi ở trên viết cho một thế giới chưa có tổ chức thương mại đa phương. Năm 2026, câu hỏi không còn là thị trường rộng tới đâu, mà là luật nào còn hiệu lực trên thị trường ấy.

Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới Ngozi Okonjo-Iweala trả lời CNBC bên lề Sáng kiến Đầu tư Tương lai tại Saudi Arabia ngày 28/10/2025: “Hệ thống bị vùi dập, bị bầm giập, nhưng nó vẫn đứng.” Bà mô tả những gì diễn ra trong năm là “sự đứt gãy lớn nhất của thương mại toàn cầu trong 80 năm”, đồng thời nói thêm rằng điều đáng ghi nhận chính là sức chống chịu của hệ thống.

Báo cáo An ninh Munich 2026 đo sức chống chịu ấy bằng số. Chương 4 ghi nhận trong năm 2025 các cuộc đàm phán hợp tác kinh tế cùng hiệp định thương mại tự do tăng vọt, nhiều cuộc bế tắc lâu năm được đẩy nhanh: Liên minh châu Âu đàm phán với Mercosur, Ấn Độ, Indonesia và Australia; hiệp định giữa Indonesia với Peru cho thấy hợp tác Nam Nam đang mạnh lên; các khối như Khu vực Thương mại Tự do Lục địa châu Phi, ASEAN cùng Liên minh châu Âu đều đang gỡ rào cản trong nội khối; riêng CPTPP nhận thêm đơn xin gia nhập mới.

Mạng lưới 17 hiệp định của Việt Nam nằm đúng trong dòng chảy ấy. Đó là chỗ đáng ghi nhận của một chiến lược mở cửa bền bỉ. Nhưng tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi 37,35% cho thấy phần việc còn lại không nằm ở chỗ đàm phán thêm hiệp định mà ở chỗ đưa doanh nghiệp đi qua những cánh cửa đã mở.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 14

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 15

 

Bảng kim ngạch phân theo nước, khối nước 7 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (tệp V03-2026-5, đơn vị gốc nghìn USD, đã quy tròn) cho phép đo mức tập trung thị trường. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 104,69 tỷ USD, tương đương 32,8% tổng kim ngạch 319,53 tỷ USD; Trung Quốc 45,64 tỷ (14,3%); EU 37,93 tỷ (11,9%); ASEAN 26,46 tỷ (8,3%); Hàn Quốc 19,06 tỷ (6,0%); Nhật Bản 17,63 tỷ (5,5%), theo bảng V03 báo cáo 7 tháng năm 2026 của Cục Thống kê. Cộng lại, 6 thị trường và khối thị trường này chiếm 78,7% xuất khẩu hàng hoá cả nước.

Các đối tác thuộc những FTA còn lại, ngoài 6 nhóm trên, đóng góp còn khiêm tốn: Hồng Kông (Trung Quốc) 12,80 tỷ USD, Ấn Độ 6,98 tỷ, Vương quốc Anh 5,39 tỷ, Mexico 5,28 tỷ, Canada 5,06 tỷ, Australia 4,57 tỷ, UAE 3,13 tỷ, Chile 0,84 tỷ, Israel 0,68 tỷ, New Zealand 0,48 tỷ (cùng tệp V03-2026-5). Nhìn theo cán cân, EU là khối cho thặng dư lớn: xuất 37,93 tỷ, nhập 11,26 tỷ; ngược lại ASEAN nhập siêu 12,16 tỷ USD, Hàn Quốc nhập siêu 32,33 tỷ và Trung Quốc nhập siêu 93,00 tỷ USD trong 7 tháng.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 16

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 17

 

Năm 2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng trực tiếp làm việc với nhiều đối tác lớn trong các chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Với Trung Quốc, tại hội đàm ngày 15/4/2026 với Bộ trưởng Thương mại Vương Văn Đào, kim ngạch song phương năm 2025 được nêu ở mức 256,5 tỷ USD, tăng 24,8% theo Hải quan Việt Nam. Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng đề nghị phía bạn mở rộng danh mục hàng hoá hưởng ưu đãi thuế quan, công nhận lẫn nhau kết quả kiểm dịch động thực vật và tạo điều kiện cho hàng Việt Nam qua thương mại điện tử xuyên biên giới; Bộ trưởng Vương Văn Đào nhắc mục tiêu 500 tỷ USD theo nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước.

Với Ấn Độ, tại Thương vụ ở New Delhi ngày 6/5/2026, Bộ trưởng nêu mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030 từ nền 16,46 tỷ USD năm 2025. Với Australia ngày 11/8/2026, hai Bộ trưởng thống nhất hướng tới 20 tỷ USD, từ nền 6 tháng 2026 khoảng 8,2 tỷ USD.

Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển hạ tầng, Logictics thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hoá.

Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển hạ tầng, Logictics thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hoá.

Điểm chung của các mục tiêu này là đều đặt trên nền tăng trưởng hai con số của năm 2026 và đều đòi hỏi công cụ đo cụ thể. FTA Index 2025 công bố ngày 18/8/2026 là công cụ đo mới nhất ở cấp địa phương: 5 tỉnh, thành phố được Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trao Bằng khen là Hải Phòng, Tuyên Quang, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đồng Nai; Hải Phòng đứng đầu hai chỉ số thành phần, Lai Châu đứng đầu chỉ số hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh, Cà Mau đứng đầu chỉ số cam kết phát triển bền vững.

Thang đo của bộ chỉ số đã được định lượng: theo Công văn 5652/BCT-DB ngày 23/7/2026 của Bộ Công Thương, mức Rất tốt là từ 30,61 điểm trở lên, mức Tốt từ 25,01 tới dưới 30,61 điểm, mức Khá từ 19,4 tới dưới 25,01 điểm, Trên thang ấy, Hải Phòng dẫn đầu với 35,62 điểm và là địa phương duy nhất đạt mức Rất tốt, tiếp đến Tuyên Quang 33,61 điểm, Thanh Hoá 30,93 điểm và Hà Nội 25,39 điểm. Ở chỉ số thành phần, Hải Phòng đạt 9,41 điểm về thực hiện quy định pháp luật thực thi FTA, Lai Châu đạt 7,59 điểm về hỗ trợ năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (cùng công văn). Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu mỗi phát hiện từ FTA Index phải gắn với một giải pháp, một cơ quan chịu trách nhiệm và một thời hạn khắc phục, đồng thời thẳng thắn rằng việc tận dụng cam kết sau ký kết chưa đạt kỳ vọng.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 19

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 20

 

Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngày 25/6/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu 4 rủi ro lớn của hoạt động xuất nhập khẩu: độ mở nền kinh tế quá cao; phụ thuộc nhập khẩu nguyên liệu, máy móc; tập trung vào một số thị trường chủ lực; chưa làm chủ chuỗi logistics và vận tải quốc tế. Rủi ro thứ ba chính là điều số liệu ở mục trên đo được. Cũng tại hội nghị, Bộ trưởng cho biết đã vận hành nền tảng số quản lý thị trường nước ngoài, tích hợp thông tin FTA và dữ liệu từ hệ thống thương vụ, đồng thời nghiên cứu Luật Phòng vệ thương mại riêng.

Trước đó, ngày 6/5/2026 tại Thương vụ Việt Nam ở Ấn Độ, Bộ trưởng yêu cầu hệ thống thương vụ đổi tư duy và cách làm theo hướng quản trị hiện đại, xác định rõ thúc đẩy sản phẩm nào, thị trường nào, đối tác nào và đo bằng chỉ số cụ thể như kim ngạch, số doanh nghiệp kết nối và hợp đồng thương mại.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 21

 

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi không chỉ là chuyện thủ tục giấy tờ. Nó là chỉ dấu về việc hàng hoá xuất khẩu có đủ hàm lượng nội khối để đáp ứng quy tắc xuất xứ hay không.

Một lô hàng chỉ được cấp giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi khi đạt tỷ lệ hàm lượng giá trị khu vực theo quy tắc của từng hiệp định. Khi tỷ lệ tận dụng thấp, nguyên nhân có thể là doanh nghiệp chưa biết cách làm thủ tục, cũng có thể là hàng chưa đạt quy tắc xuất xứ vì nguyên liệu nhập từ ngoài khối. Hai nguyên nhân ấy đòi hai loại giải pháp hoàn toàn khác nhau: một bên cần tập huấn và đơn giản hoá thủ tục, bên kia cần phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Bộ số hiện có chưa tách được hai nguyên nhân đó. Đây là câu hỏi mà một chỉ tiêu tận dụng ưu đãi, nếu được đưa vào Chiến lược như Báo Công Thương đề nghị, cần kèm theo lời giải: đo được tỷ lệ là bước một, biết vì sao tỷ lệ thấp mới là bước quyết định.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 22

 

17 hiệp định thương mại tự do là một mạng lưới mà không nhiều nền kinh tế có quy mô tương đương Việt Nam xây dựng được. Nó phủ tới hơn 80% tổng sản phẩm toàn cầu, mở đường vào hầu hết các thị trường lớn, lại vẫn đang dài thêm với hiệp định mới nhất có hiệu lực từ tháng 2/2026.

Nhưng bảy tháng đầu năm 2026 cho thấy một khoảng cách: mạng lưới đã rộng, còn mức độ dùng tới thì chưa theo kịp. Mở thêm một cánh cửa là việc của đàm phán. Đi qua được cánh cửa ấy lại là việc của doanh nghiệp, của quy tắc xuất xứ và của công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Đó cũng chính là lý do vì sao đề nghị đưa tỷ lệ tận dụng ưu đãi thành một chỉ tiêu chính thức, với mức 55% vào năm 2030, không phải là một con số cho đẹp bảng biểu. Một chỉ tiêu như vậy buộc bộ máy phải trả lời hằng năm câu hỏi khó: trong số hàng hoá đã xuất đi, bao nhiêu phần thực sự hưởng được ưu đãi mà mười bảy vòng đàm phán đã giành về.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 4: Mười bảy cánh cửa - 23

 

Một năm trước, Bộ Chính trị đã ra một nghị quyết chuyên đề về đúng câu chuyện của bài này. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới yêu cầu “tận dụng hiệu quả các thoả thuận, liên kết kinh tế quốc tế, nhất là các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, tăng cường đan xen lợi ích”, đồng thời “tiếp tục hoàn thiện thể chế để nâng cao năng lực thực thi cam kết quốc tế”.

Từ khoá là tận dụng chứ không phải ký kết. Nghị quyết đặt việc tận dụng ở vị trí đầu tiên trong nhóm nhiệm vụ về hội nhập kinh tế, trước cả việc tham gia các sáng kiến mới. Nghị quyết còn dặn tham gia sáng kiến mới thì phải “có chọn lọc”.

Văn kiện đã nhận diện đúng chỗ nghẽn từ đầu năm 2025. Việc còn lại thuộc khâu thực thi: một bộ chỉ tiêu đo tỷ lệ tận dụng theo từng hiệp định, công bố định kỳ, để biết con số ấy đang nhích lên hay đứng yên.

Có thể bạn quan tâm