Công nghiệp quốc phòng kết tinh từ ý chí toàn Đảng, toàn dân
Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Trong khí thế đó, nhiệm vụ tổ chức, xây dựng Quân đội nhân dân được đặt ra khẩn trương nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Nhận thức sâu sắc rằng sức mạnh quân đội được quyết định bởi con người và vũ khí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển vũ khí, trang bị để vũ trang toàn dân, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc.
Ngay trong tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới trực thuộc Bộ Quốc phòng, giao nhiệm vụ thu thập, mua sắm và tổ chức sản xuất vũ khí cho quân đội. Đây là dấu mốc mở đầu cho sự hình thành ngành quân giới - tiền thân của công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Công nghiệp quốc phòng Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ, lấy tự chủ công nghệ làm nền tảng, tạo sức mạnh tổng hợp cho quốc phòng và phát triển. Ảnh: Nam Nguyễn
Khi đất nước vô cùng khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, kỹ thuật và vật tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”.
Hưởng ứng lời kêu gọi đó, đông đảo nhân dân, công nhân, trí thức, thợ thủ công đã tự nguyện đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp quân giới. Ngày 25/9/1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân quyền trưng thu các xưởng và vật liệu cần thiết phục vụ kỹ nghệ binh khí, tạo điều kiện hình thành các tổ sửa chữa, chế tạo vũ khí và binh công xưởng trên khắp cả nước.
Tháng 3/1946, Phòng Quân giới được nâng cấp thành Chế tạo Quân giới Cục; đầu năm 1947 đổi tên thành Cục Quân giới, thống nhất chỉ đạo nghiên cứu, sản xuất và sửa chữa vũ khí. Dưới sự tổ chức của Cục, ngành quân giới đã chế tạo được nhiều loại vũ khí, đạn dược quan trọng, kịp thời trang bị cho các đơn vị chiến đấu, góp phần làm thất bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp và tạo cơ sở vật chất cho thắng lợi Điện Biên Phủ.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngành quân giới tiếp tục phát triển, cải tiến và sử dụng hiệu quả vũ khí, trang bị viện trợ, đáp ứng yêu cầu chiến trường, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau năm 1975, công tác bảo đảm kỹ thuật và sản xuất quốc phòng được tổ chức, sắp xếp lại phù hợp với yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, hiện đại. Việc thành lập Tổng cục Công nghiệp quốc phòng đã đánh dấu bước phát triển mới, đưa công nghiệp quốc phòng từng bước hội nhập, gắn kết với công nghiệp quốc gia, hướng tới tự lực, tự cường, làm chủ công nghệ.
Thực tiễn hơn 80 năm xây dựng và phát triển cho thấy, công nghiệp quốc phòng Việt Nam không khởi nguồn từ điều kiện vật chất đầy đủ, mà bắt đầu từ ý chí, quyết tâm chính trị của Đảng, từ tinh thần tự lực, tự cường và sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc. Chính ý chí toàn Đảng, toàn dân ấy là nền tảng bền vững để công nghiệp quốc phòng không ngừng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi giai đoạn cách mạng.
Luận điệu không thể “đứng vững” trước sự thật
Từ những ngày đầu dựng và giữ nước, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn bất chấp lý lẽ, bảo thủ, bịa đặt thông tin sai lệch trong lĩnh vực quốc phòng. Công nghiệp quốc phòng thường bị bóp méo, thổi phồng hoặc diễn giải theo hướng tiêu cực. Mục đích là làm giảm niềm tin của Nhân dân vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Đặc biệt, khi mạng xã hội phổ biến, thế lực thù địch dùng thủ đoạn giả danh các kênh thông tin chính thống để lấy lòng tin người dùng, sau đó lồng ghép những thông tin bịa đặt. Các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc đường lối quân sự nói chung, đặc biệt là đường lối sản xuất công nghiệp quốc phòng theo 3 hướng chính.

Đại tá Đỗ Phú Thọ, Tổng Biên tập Báo Cựu chiến binh Việt Nam
Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, trước đây, việc quân đội quản lý và phát triển công nghiệp quốc phòng là phù hợp, nhưng hiện nay, khoa học - công nghệ đã hiện đại, vì vậy công nghiệp quốc phòng nên tách khỏi Bộ Quốc phòng. Các thế lực thù địch lập luận rằng nếu quân đội vừa đặt hàng công nghiệp quốc phòng, vừa quản lý thì giống như “vừa là trọng tài, vừa đá bóng”, không phù hợp. Mục tiêu là đòi tách công nghiệp quốc phòng ra khỏi sự quản lý của Bộ Quốc phòng.
Thứ hai, các thế lực thù địch phản đối quan điểm phát triển công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng của ta.
Thứ ba, công nghiệp quốc phòng Việt Nam muốn hiện đại thì phải hoàn toàn sử dụng công nghệ phương Tây, còn trình độ của chúng ta không thể tự nghiên cứu, tự sản xuất vũ khí trang bị.
Rõ ràng, các luận điệu nêu trên hoàn toàn sai trái.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, Đại tá Đỗ Phú Thọ, Tổng Biên tập Báo Cựu chiến binh Việt Nam khẳng định, luận điệu đòi tách công nghiệp quốc phòng khỏi sự quản lý của Bộ Quốc phòng là phiến diện, bởi công nghiệp quốc phòng gắn trực tiếp với nhiệm vụ quân sự quốc phòng đặc thù của từng quốc gia. Chỉ có sự lãnh đạo, quản lý thống nhất của quân đội, gắn liền chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam mới bảo đảm đúng định hướng, hiệu quả và an toàn tuyệt đối cho quốc phòng, an ninh quốc gia.
Đồng thời, sự quản lý của Nhà nước đối với công nghiệp quốc phòng là rất cần thiết.
“Quốc gia nào cũng như vậy, có quốc gia công nghiệp quốc phòng do quân đội quản lý, có quốc gia đặt bên ngoài quân đội, nhưng đều nằm trong sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước”, Tổng Biên tập Báo Cựu chiến binh Việt Nam nhấn mạnh.
Đại tá Đỗ Phú Thọ lấy ví dụ từ thực tiễn quốc tế, công nghiệp quốc phòng Trung Quốc do quân đội trực tiếp quản lý. Mỹ thì đặt trong các tổ hợp công nghiệp - quân sự, nhưng giữa các tổ hợp này và giới chính khách có mối quan hệ rất mật thiết. Dù là đa đảng, nhưng thực tế chỉ có hai đảng lớn và đảng nào cầm quyền cũng phải nắm công nghiệp quốc phòng để sản xuất vũ khí, trang bị cho quân đội.
“Chúng ta phát triển công nghiệp quốc phòng theo theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là phải tự sản xuất vũ khí để bảo đảm sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc”, Đại tá Đỗ Phú Thọ khẳng định.
Việc các thế lực thù địch phủ nhận công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng cũng là một quan điểm hoàn toàn sai. Truyền thống của chúng ta từ trước đến nay là toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân.
“Trong lịch sử chiến tranh, chúng ta đã sản xuất được rất nhiều vũ khí từ các thiết bị, vật tư dân dụng. Thực tế hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đầu tư mạnh cho công nghiệp lưỡng dụng”, Đại tá Đỗ Phú Thọ chia sẻ.
Đặc biệt, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng đều khẳng định phát triển công nghiệp quốc phòng trên cơ sở công nghệ tiên tiến và công nghệ lưỡng dụng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV tiếp tục nhấn mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và tự chủ sản xuất vũ khí, trang bị.
Từ thực tiễn phát triển công nghiệp quốc phòng và những quan điểm nhất quán được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng có thể thấy rõ, mọi luận điệu xuyên tạc về đường lối quốc phòng nói chung, công nghiệp quốc phòng nói riêng đều không đứng vững trước sự thật.
Một điểm mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc được nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng là việc lần đầu tiên Đảng xác định yêu cầu “đột phá phát triển”, thay cho cách tiếp cận “phát triển” hoặc “xây dựng” như tại các nghị quyết trước. Sự điều chỉnh này thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng trong việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ, mang tính nhảy vọt đối với phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh trong thời gian tới.

Tự chủ công nghệ, phát triển lưỡng dụng hiệu quả đang giúp công nghiệp quốc phòng Việt Nam gia tăng nội lực, củng cố tiềm lực quốc phòng thời kỳ mới. Ảnh: Nam Nguyễn
Cùng với việc tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển theo hướng “lưỡng dụng, hiện đại” đã được nêu tại các kỳ đại hội trước, Báo cáo chính trị lần này bổ sung các yêu cầu “tự chủ, tự lực, tự cường”. Đây là cách tiếp cận mới, toàn diện và đầy đủ hơn trong phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, đặc biệt trước những thách thức của chiến tranh công nghệ cao.
Do đó, công nghiệp quốc phòng Việt Nam được xây dựng không nhằm đối đầu hay chạy đua vũ trang, mà để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Việc phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, lưỡng dụng, hiện đại là lựa chọn đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn và truyền thống quốc phòng toàn dân của dân tộc.
Tự chủ công nghệ, sẵn sàng trong mọi tình huống
Những năm qua, công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, thể hiện rõ qua năng lực làm chủ ngày càng sâu các công nghệ nền, công nghệ lõi, nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại.
Đến nay, ngành công nghiệp quốc phòng đã từng bước làm chủ nhiều lĩnh vực công nghệ quan trọng, từ thiết kế, chế tạo vũ khí bộ binh đến các khí tài, phương tiện kỹ thuật và hệ thống vũ khí có hàm lượng công nghệ cao. Một số sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam có tính năng kỹ thuật, chiến thuật tương đương, thậm chí vượt trội so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài.
Danh mục sản phẩm quốc phòng ngày càng đa dạng, đồng bộ, thể hiện rõ tính kế thừa, phát triển liên tục và khả năng tích hợp cao giữa các chủng loại vũ khí, trang bị. Tiêu biểu là các dòng súng bộ binh STV và súng phóng lựu SPL, trong đó súng phóng lựu SPL-40 có thể gắn kẹp nòng dưới súng tiểu liên STV, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với nhiều phương án và nhiệm vụ tác chiến khác nhau. Cách tiếp cận này phản ánh tư duy thiết kế hiện đại, chú trọng hiệu quả sử dụng, khả năng cơ động và thích ứng trong điều kiện tác chiến thực tế.
Không dừng lại ở vũ khí bộ binh, trong lĩnh vực UAV, một hệ sinh thái sản phẩm khá hoàn chỉnh đã được hình thành, gồm UAV trinh sát hạng nhẹ tầm trung VU-R70, UAV trinh sát hạng nhẹ tầm ngắn VU-R50, UAV cảm tử VU-C2, cùng các dòng UAV chuyên dụng như RAV-80 có khả năng cất, hạ cánh thẳng đứng, hay M400-CT2 phục vụ huấn luyện và thử nghiệm vũ khí phòng không. Những sản phẩm này cho thấy khả năng nắm bắt kịp thời xu hướng chiến tranh hiện đại và năng lực nội sinh ngày càng vững chắc của công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Song song với phát triển sản phẩm, mô hình công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng tiếp tục được triển khai hiệu quả, trở thành một trụ cột quan trọng trong xây dựng tiềm lực quốc phòng bền vững.
Hiện nay, nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng như các nhà máy Z131, Z121, Z113 hay Tập đoàn Viettel vừa thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị quân sự, vừa tận dụng năng lực công nghệ, nhân lực và dây chuyền sản xuất để tham gia sản xuất các sản phẩm kinh tế. Trong điều kiện thời bình, việc duy trì sản xuất quốc phòng liên tục với số lượng lớn là không khả thi.
Ở cấp độ tổ hợp và hệ thống, nhiều sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao đã được nghiên cứu, chế tạo thành công, tiêu biểu như tổ hợp tên lửa phòng không S-125-VT, hệ thống tên lửa bờ Trường Sơn với tên lửa hành trình diệt hạm Sông Hồng, xe chiến đấu bộ binh XCB-01. Những kết quả này khẳng định bước tiến vững chắc của công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong việc xây dựng các hệ thống vũ khí đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu tác chiến ngày càng cao và từng bước tiệm cận trình độ khu vực, quốc tế.
Tất cả các công nghệ kể trên đã được minh chứng sinh động qua thực tiễn, tiêu biểu là tại sự kiện Diễu binh kỷ niệm 80 năm Quốc khánh Việt Nam. Việc trình diễn công khai, bài bản hàng loạt sản phẩm, công nghệ quốc phòng do Việt Nam tự nghiên cứu, thiết kế và chế tạo từ vũ khí bộ binh, UAV, khí tài trinh sát đến các tổ hợp kỹ thuật hiện đại cho thấy sự trưởng thành rõ nét về tư duy phát triển, trình độ tổ chức và khả năng làm chủ công nghệ lõi của toàn ngành.
Từ làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi đến hình thành các hệ thống vũ khí đồng bộ mang dấu ấn “Made in Vietnam”, công nghiệp quốc phòng Việt Nam đang khẳng định một bước chuyển mình thực chất và bền vững. Những kết quả đạt được không chỉ trực tiếp nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, mà còn thể hiện rõ năng lực tự lực, tự cường, sáng tạo và khả năng hội nhập ngày càng sâu rộng.




