Công nghệ sinh học hiện đại: Tiếp cận, làm chủ và phát triển nhanh

Phấn đấu đưa công nghệ sinh học (CNSH) trong lĩnh vực chế biến chiếm trên 40% tổng số đóng góp của khoa học công nghệ (KHCN) vào giá trị gia tăng của ngành công nghiệp chế biến (CNCB). Đó là mục tiêu đặt ra cho giai đoạn 2016-2020 của Đề án Phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực công nghiệp chế biến đến năm 2020.
Hầu hết các ứng dụng CNSH trong lĩnh vực CNCB đều mang lại hiệu quả cao

Theo báo cáo của Ban điều hành đề án (Bộ Công Thương), giai đoạn 2007- 2015, có 80% tổng số các dự án sản xuất thử nghiệm triển khai là từ kết quả thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển của đề án. Hầu hết các kết quả nghiên cứu được ứng dụng và chuyển giao vào thực tiễn sản xuất tại doanh nghiệp, được Hội đồng nghiệm thu và các doanh nghiệp đánh giá cao về khả năng ứng dụng của công nghệ, chất lượng và hiệu quả kinh tế của sản phẩm. Đóng góp của CNSH trong giai đoạn này chiếm 15% tổng số đóng góp của KHCN vào giá trị gia tăng của sản phẩm CNCB. Trong giai đoạn tiếp theo (2016-2020), mục tiêu của đề án là phấn đấu đưa CNSH trong lĩnh vực CNCB đạt trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, một số lĩnh vực đạt trình độ các nước phát triển trên thế giới; CNSH trong lĩnh vực chế biến đóng góp trên 40% tổng số đóng góp của KHCN vào giá trị gia tăng của ngành CNCB.

Theo đó, tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng các CNSH hiện đại trong lĩnh vực CNCB; tiếp cận, làm chủ và phát triển nhanh CNSH hiện đại để tạo ra chủng vi sinh vật mới có chất lượng tốt, hiệu suất lên men cao và ổn định trong sản xuất ở quy mô công nghiệp; sản xuất và ứng dụng các loại enzyme (nhất là enzyme tái tổ hợp) phục vụ nhu cầu phát triển CNCB; phát triển mạnh và bền vững ngành CNSH phục vụ lĩnh vực CNCB; tạo lập thị trường thuận lợi để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và dịch vụ các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của CNSH trong lĩnh vực CNCB, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tiếp tục đầu tư tăng cường tiềm lực (về cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực) kết hợp khai thác hiệu quả nguồn tiềm lực đã được đầu tư để phát triển CNSH trong lĩnh vực CNCB. Nhiệm vụ đặt ra cho giai đoạn này: Nghiên cứu cơ bản, ứng dụng, khoa học và phát triển công nghệ (R-D), triển khai sản xuất thử nghiệm sản phẩm phục vụ phát triển CNSH trong lĩnh vực CNCB; xây dựng và phát triển các ngành CNSH nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và dịch vụ các sản phẩm, hàng hóa chủ lực trong lĩnh vực CNCB; tăng cường tiềm lực phục vụ phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực CNCB.

Cụ thể đối với công nghệ vi sinh: Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu và hoàn thiện các quy trình công nghệ, thiết bị lên men vi sinh ở quy mô vừa và nhỏ, tập trung vào ưu tiên nghiên cứu ứng dụng CNSH kết hợp chế tạo hệ thống thiết bị đồng bộ để sản xuất thử nghiệm sản phẩm và sản xuất ở quy mô công nghiệp các chế phẩm vi sinh, phục vụ CNCB thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, các chất phụ gia, hóa chất… Đẩy mạnh việc hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn; ưu tiên nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao chất lượng, đa dạng sản phẩm và tăng sức cạnh tranh…Đối với công nghệ enzym và protein: Tiếp tục các nhiệm vụ nghiên cứu tạo ra và hoàn thiện các quy trình, thiết bị ứng dụng công nghệ enzym ở quy mô vừa và nhỏ; triển khai nhiệm vụ sản xuất thử nghiệm các chế phẩm enzyme, protein phục vụ cho ngành CNCB thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, các chất phụ gia, hóa chất…; nghiên cứu và sản xuất dây chuyền thiết bị đồng bộ ứng dụng enzym và protein trong CNCB ở quy mô vừa và nhỏ, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất ở quy mô lớn một số loại enzym và protein đã được nghiên cứu, kết hợp nhập khẩu một số loại enzym và protein đặc thù giúp nâng cao chất lượng, đa dạng hóa và tăng sức cạnh tranh sản phẩm, thúc đẩy sự nghiệp phát triển của ngành CNCB.

Theo kế hoạch, tổng vốn ngân sách nhà nước để thực hiện các nội dung của Đề án Phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực CNCB đến năm 2020 giai đoạn 2016-2020 dự kiến khoảng 372,5 tỷ đồng (trung bình mỗi năm khoảng 74,5 tỷ đồng).

Hải Nam