Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ bảy 25/01/2020 16:19

Chính sách thuế với ngân sách và vấn nạn buôn lậu thuốc lá

09:30 | 10/12/2018
Để đạt mục tiêu kiểm soát thuốc lá, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 2012 đã quy định áp dụng chính sách thuế phù hợp để giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá.

Tuy nhiên việc xây dựng lộ trình tăng thuế như thế nào cho phù hợp để vừa giúp tăng thu ngân sách đồng thời giúp kiểm soát tốt hoạt động kinh doanh sản phẩm thuốc lá, đặc biệt là góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống buôn lậu thuốc lá.

Ngành thuốc lá đang gánh thuế và phí rất lớn

Hiện nay, hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm thuốc lá đang phải chịu những khoản thuế và phí như sau: Trước tiên, thuốc lá điếu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với mức thuế suất là 70% và sẽ tăng lên 75% từ ngày 1/1/2019. Thuốc lá cũng chịu khoản đóng góp bắt buộc vào Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá ở mức phí 1,5% (sẽ tăng lên 2% từ ngày 1/5/2019), thuế giá trị gia tăng với thuế suất 10% và đối với thuốc lá nhập khẩu sẽ phải chịu thêm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi áp dụng là 135%. Ngoài ra các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc lá cũng đang đóng góp tiền cho Quỹ phòng, chống buôn lậu thuốc lá điếu và chống sản xuất, buôn bán thuốc lá giả để đảm bảo kinh phí hỗ trợ cho việc bắt giữ và tiêu hủy thuốc lá lậu, thuốc lá giả là 4.500 đồng/bao 20 điếu.

chinh sach thue voi ngan sach va van nan buon lau thuoc la

Trong thời gian gần đây, một số đề xuất tăng thuế và phí đối với thuốc lá liên tục được đưa ra. Đáng chú ý nhất là đề xuất tăng thuế tiêu thụ đặc biệt theo phương pháp hỗn hợp (kết hợp thu theo thuế suất tỷ lệ và thuế suất tuyệt đối), theo đó bổ sung mức thu thuế tuyệt đối 1.000 đồng/bao thuốc lá 20 điếu và 1.500 đồng/một điếu xì gà áp dụng từ ngày 1/1/2020. Bên cạnh đó, đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng (lên mức 12% so với 10% hiện nay) và thu tiền cấp tem thuốc lá sẽ được Bộ Tài chính xây dựng và ban hành tại Thông tư theo quy định tại Nghị định 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2016 quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa cung cấp dịch vụ. Như vậy, theo các quy định hiện hành và một số dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đang được xây dựng, lượng thuế và phí mà hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm thuốc lá đang và sẽ phải gánh chịu là rất lớn.

Tác động của chính sách thuế với buôn lậu thuốc lá

Đối với ngành thuốc lá, chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) có thể xem là chính sách quan trọng bậc nhất, có tác động mạnh mẽ đến thu ngân sách và tình hình buôn lậu thuốc lá. Thực tiễn, khi xây dựng chính sách thuế TTĐB, chính phủ tại các quốc gia khu vực Đông Nam Á phải cân bằng các mục đích tăng thu ngân sách và giảm lượng tiêu thụ thuốc lá của mình với tiềm ẩn giảm mức khả dụng của thuốc lá điếu có thể làm cho người tiêu dùng chuyển sang nguồn thuốc lá bất hợp pháp như thuốc lá lậu. Đây chính là sự đánh đổi củng cố cho lý thuyết đường cong Laffer nổi tiếng.

Lý thuyết đường cong Laffer nói lên rằng, thuế suất tối đa hóa thu ngân sách đối với thuốc lá điếu sẽ là một hàm gồm một số yếu tố có quan hệ với nhau, bao gồm thu nhập trung bình của dân số, số mặt hàng thay thế sẵn có, thuế suất đối với các sản phẩm thuốc lá khác và thương mại bất hợp pháp. Như vậy, thương mại bất hợp pháp là một biến số khi đánh giá ảnh hưởng của việc tăng thuế TTĐB. Sự hiện diện của các sản phẩm thay thế bất hợp pháp đối với thuốc lá điếu hợp pháp làm tăng mạnh độ co giãn cầu theo giá của sản phẩm có trả thuế. Để chứng minh cho lý thuyết này, có thể xem xét thực tế mối quan hệ giữa tăng thuế TTĐB với gia tăng thị trường bất hợp pháp tại Malaysia.

chinh sach thue voi ngan sach va van nan buon lau thuoc la

Năm 2002, thuế TTĐB tại Malaysia là R43,2 trên 1.000 điếu. Sau đó chính phủ bắt đầu tăng mạnh thuế TTĐB. Vào năm 2010, thuế TTĐB đã tăng trên 430% lên R230 trên 1.000 điếu. Kết quả là, giá bình quân của thuốc lá điếu hợp pháp đã tăng hơn hai lần. Tăng mạnh về giá thuốc lá bất hợp pháp khiến người tiêu dùng chuyển sang các nguồn cung cấp bất hợp pháp. Năm 2002, người hút thuốc Malaysia đã tiêu thụ 19,5 tỷ điếu thuốc lá hợp pháp. Tới 2010, lượng bán thuốc lá hợp pháp đã giảm còn 13,5 tỷ điếu, trong khi đó tiêu thụ thuốc lá bất hợp pháp có sự vượt trội, đã tới 8,8 tỷ điếu, chiếm 36% toàn thị trường.

Kinh nghiệm của Malaysia cho thấy, một khi buôn lậu thuốc lá đã hình thành, rất khó giảm. Tiêu thụ bất hợp pháp dự tính vẫn là 36% tổng tiêu thụ năm 2013. Như vậy, thực tế tại Malaysia trong giai đoạn 2002-2013 đã chứng minh rất rõ ràng có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng thuế TTĐB và sự gia tăng mạnh mẽ tình trạng buôn bán thuốc lá bất hợp pháp. Từ thực tế của Malaysia, Trung tâm thuế và đầu tư quốc tế (ITIC) đã khuyến nghị, trong khi chưa hài hòa thuế, các chính phủ cần ở mức độ hợp lý nhắm tới việc không tạo nên những chênh lệch về thuế và giá lớn với tất cả các nước láng giềng - vì những khác biệt này có thể làm tổn hại nguồn thu ngân sách của quốc gia do khuyến khích buôn lậu.

Đối với Việt Nam, giá bán lẻ thuốc lá của Việt Nam đang cao hơn hai nước láng giềng có chung đường biên giới là Lào và Campuchia. Trong khu vực ASEAN, cũng có quốc gia có hoạt động xuất khẩu thuốc lá mạnh nhưng chưa là thành viên của Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá, đồng nghĩa với việc chưa chịu sự điều chỉnh của những cam kết quốc tế về in cảnh báo sức khỏe, kiểm soát buôn lậu thuốc lá. Điều này khiến việc tăng thuế TTĐB tại Việt Nam càng trở nên rủi ro hơn, có thể khiến Việt Nam trở thành thị trường hấp dẫn cho thuốc lá nhập lậu ngay từ các quốc gia láng giềng này đổ về.

Một trong những mục đích đặt ra khi tăng thuế TTĐB là giúp tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, bản thân việc tăng thuế TTĐB không phải lúc nào cũng mang đến tác dụng như mong muốn. Trường hợp của Singapore là một ví dụ điển hình. Tại Singapore, giai đoạn từ năm 2000-2005 là thời kỳ tăng mạnh thuế TTĐB, từ 150 đôla/1.000 điếu lên 352/1.000 điếu - tăng bình quân 19% một năm. Từ năm 2006-2013 không tăng thuế TTĐB. Phản ứng trước những thay đổi giá do thuế TTĐB, khối lượng có trả thuế giảm từ 3,2 tỷ điếu trong năm 2000 xuống mức thấp là 1,8 tỷ điếu năm 2006 (bằng 43%). Thu từ thuế TTĐB ban đầu (2000-2003) đã tăng 54% nhưng giảm 10% giữa 2003 và 2006.

Trong báo cáo ngân sách năm 2006 của Singapore, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Lý Hiển Long nhận xét: “Tôi đã nghiêm túc xem xét việc tăng thuế TTĐB thuốc lá, nhưng đã phải miễn cưỡng quyết định rút lại nó vì chúng ta đang thấy thu bị giảm sút, không phải người dân hút ít hơn mà vì buôn lậu tăng lên”. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa tăng thuế TTĐB và tăng buôn lậu thuốc lá, và hệ quả là, thu ngân sách từ thuế TTĐB thay vì tăng lên lại có thể bị giảm khi tăng mạnh thuế TTĐB.

Chính sách thuế cần phù hợp để đảm bảo nguồn thu ngân sách và hạn chế buôn lậu thuốc lá

Từ những phân tích nêu trên, để đảm bảo nguồn thu ngân sách và hạn chế buôn lậu thuốc lá, khi xây dựng chính sách thuế nên có những đánh giá kỹ lưỡng và đầy đủ về mối quan hệ giữa chính sách thuế - thu ngân sách - buôn lậu thuốc lá, tính toán cẩn thận cả trong ngắn hạn, dài hạn những tác động của chính sách thuế khi được triển khai thi hành đối với nguồn thu ngân sách, hoạt động của những đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chính sách thuế cũng như tình hình buôn lậu thuốc lá tại Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra được những chính sách thuế hợp lý. Song song với đó, công tác đấu tranh với vấn nạn buôn lậu thuốc lá cũng cần được tăng cường, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả một cách bài bản và đồng bộ từ việc xây dựng cơ chế, chính sách pháp luật cho đến các hoạt động thực thi chính sách, các hoạt động chấp pháp trên thực tế của các lực lượng chức năng. Có như vậy chính sách thuế mới có thể đảm bảo tăng nguồn thu bền vững cho ngân sách Nhà nước.

Nên chăng, giải pháp cho việc xây dựng chính sách thuế đặc biệt là thuế TTĐB đối với thuốc lá ngoài mục tiêu để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và giảm tiêu thụ thuốc lá trên cơ sở bảo vệ sức khỏe trong bối cảnh tránh thất thu và cần giữ cân đối ngân sách của quốc gia, các Bộ ban ngành, Chính phủ cần tiếp tục và đẩy mạnh thực hiện mục tiêu chống vấn nạn buôn lậu thuốc lá đang gây thất thu lớn cho ngân sách, đến các doanh nghiệp, người lao động sản xuất kinh doanh thuốc lá hợp pháp trong nước.