Cần có hướng dẫn cụ thể về xử lý việc chiếm giữ con dấu của DN
CôngThương - Chuyện giám đốc chiếm giữ con dấu của doanh nghiệp (DN) khi bị mất chức không mới. Những năm qua đã xảy ra nhiều vụ tương tự như ở Công ty CP Hữu Nghị (Hà Nội), Công ty CP xây dựng giao thông I (Hà Nội), Công ty 142 (Đồng Nai), Đại học Hùng Vương, Công ty CP kim khí Hải Phòng... Thậm chí, ở một hiệp hội DN tại Hà Nội, ông Phó chủ tịch cũng “ôm” con dấu của hiệp hội về nhà “cất giữ”...
Hậu quả của việc con dấu bị chiếm giữ là rất lớn. Bởi, theo quy định của pháp luật Việt Nam, con dấu (dấu tròn) do công an cấp phép sử dụng thể hiện tư cách pháp nhân của một tổ chức, DN. Vậy, việc chiếm giữ con dấu của DN được giải quyết như thế nào?
Đã có những vụ con dấu của DN bị chiếm giữ, người có liên quan tố cáo tới công an, công an đề nghị Viện Kiểm sát khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Song, Viện Kiểm sát đã không chấp nhận vì Bộ luật Hình sự chỉ quy định hành vi “chiếm đoạt con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội” chứ không quy định hành vi “chiếm đoạt con dấu, tài liệu của DN”. Sau đó, vụ việc được khởi kiện ra tòa án. Song, tòa án đã trả lại đơn với lý do “không thuộc thẩm quyền giải quyết”. Vì công an không xử lý, tòa án không thụ lý đơn khởi kiện nên những vụ chiếm giữ con dấu thường do UBND cấp quận, huyện hoặc tỉnh giải quyết thông qua xử lý hành chính, hòa giải. Không ít vụ đã rơi vào bế tắc và để DN hoạt động trở lại, cơ quan có thẩm quyền đã chọn phương án cấp cho DN con dấu mới.
| Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể về xử lý những trường hợp chiếm giữ con dấu của DN nhằm tạo điều kiện thuận lợi giải quyết các tranh chấp nội bộ, tránh gây những thiệt hại không đáng có cho DN. |
Câu hỏi đặt ra là: Việc chiếm giữ con dấu được xác định là tội gì?
Điều 36, Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “DN có con dấu riêng. Con dấu của DN phải được lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của DN” và “Con dấu là tài sản của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN phải chịu trách nhiệm quản lý sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật”. Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) vẫn giữ nguyên nội dung này.
Có thể thấy, việc đưa con dấu của DN ra khỏi trụ sở chính, thậm chí cất giấu ở một nơi nào đó là hành vi vi phạm pháp luật. Hơn nữa, con dấu là tài sản của DN, do đó người cố tình chiếm giữ con dấu tức là đã chiếm đoạt tài sản của DN.
Như vậy, việc chiếm giữ con dấu có thể ghép vào tội chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 137 Bộ luật Hình sự: “Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.