Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo lần 2 Thông tư Hướng dẫn việc trích lập dự phòng và xử lý các khoản dự phòng đã trích lập tại doanh nghiệp. Dự thảo quy định cụ thể các trường hợp khoản nợ phải thu được xác định không có khả năng thu hồi và hồ sơ xử lý tương ứng.
Cụ thể, đối với trường hợp khách nợ là tổ chức kinh tế, doanh nghiệp phải chuẩn bị các hồ sơ pháp lý chặt chẽ tùy theo từng tình trạng thực tế của đối tác.
Dự thảo quy định xử lý nợ không có khả năng thu hồi, theo dõi tối thiểu 10 năm.
Thứ nhất, nếu đối tượng nợ đã phá sản, hồ sơ bắt buộc phải có quyết định của Tòa án tuyên bố phá sản. Trường hợp khách hàng ở nước ngoài, doanh nghiệp phải cung cấp quyết định công bố phá sản từ cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại.
Thứ hai, nếu đối tượng nợ đã chấm dứt hoạt động hoặc giải thể, doanh nghiệp phải có ít nhất một trong các tài liệu chứng minh cụ thể. Đó có thể là văn bản xác nhận hoặc thông báo chính thức về việc giải thể, chấm dứt hoạt động. Thông báo này có thể được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng thông báo trên trang thông tin điện tử của cơ quan quyết định thành lập, cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
Đáng chú ý, đối với các khoản nợ đã được khởi kiện ra Tòa án, doanh nghiệp được phép xử lý khoản nợ sau 5 năm kể từ ngày có quyết định thi hành án. Quy định này áp dụng khi cơ quan thi hành án dân sự xác định đối tượng nợ không có tài sản để thi hành án. Trường hợp tài sản của đối tác đang thế chấp, bảo đảm, cầm cố tại tổ chức tín dụng, tài sản chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, hoặc đang bị kê biên, phong tỏa trong các vụ án khác cũng thuộc diện này. Khi đó, bộ hồ sơ xử lý nợ cần có quyết định thi hành án, các văn bản xác minh điều kiện thi hành án và văn bản đôn đốc của doanh nghiệp gửi cơ quan thi hành án.
Trường hợp đối tượng nợ đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định cho xóa nợ theo quy định, doanh nghiệp sử dụng quyết định này làm căn cứ xử lý. Đồng thời, các khoản chênh lệch thiệt hại được cấp có thẩm quyền quyết định cho bán nợ cũng được đưa vào hồ sơ để hoàn tất thủ tục tài chính.
Đặc biệt, dự thảo hướng dẫn cụ thể về hồ sơ đối với các khoản nợ khó đòi đã được trích lập 100% dự phòng. Đối với nợ thương mại thông thường, doanh nghiệp phải có đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh khoản nợ đã trích lập đủ 100% dự phòng và sau 3 năm theo dõi vẫn chưa thể thu hồi. Đối với nhóm nợ cá nhân đặc thù như viễn thông, truyền hình, trả chậm hay phí ngân hàng, doanh nghiệp cần cung cấp tài liệu chứng minh đã trích đủ 100% dự phòng và sau 1 năm vẫn không thu hồi được tiền.
Song song với hồ sơ chứng minh tình trạng của đối tác, khi tiến hành xử lý khoản nợ không có khả năng thu hồi, doanh nghiệp bắt buộc phải hoàn thiện bộ hồ sơ nội bộ để làm căn cứ hạch toán. Trước hết, doanh nghiệp phải có biên bản của Hội đồng xử lý nợ. Tài liệu này phải ghi rõ giá trị của từng khoản nợ phải thu, số tiền nợ đã thu hồi được và giá trị thiệt hại thực tế sau khi trừ đi các khoản thu hồi.
Theo dự thảo, doanh nghiệp cần chuẩn bị bảng kê chi tiết các khoản nợ phải thu đã xóa để làm căn cứ hạch toán kế toán. Đi kèm với đó là sổ kế toán, các chứng từ và tài liệu chứng minh khoản nợ thực tế vẫn chưa thu hồi được và đang được theo dõi trên sổ sách của đơn vị. Ngoài ra, bộ hồ sơ còn bao gồm toàn bộ chứng từ liên quan đến việc thực hiện trích lập dự phòng của các khoản nợ khó đòi này.