Tại Tọa đàm với chủ đề: “Miền Bắc vào mùa nắng nóng: Sử dụng điện hiệu quả, giảm áp lực hệ thống và hóa đơn tiền điện", do Báo Công Thương tổ chức ngày 4/6, ông Nguyễn Thế Hữu, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) đã chia sẻ về các giải pháp trọng tâm bảo đảm cung ứng điện mùa khô.
- Bộ Công Thương đã phê duyệt Kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện năm 2026 từ rất sớm. Xin ông cho biết tổng quan về kế hoạch cung cấp điện trong năm 2026, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa nắng nóng, đồng thời, khả năng cân đối cung - cầu điện năm nay được đánh giá như thế nào và các giải pháp trọng tâm của Bộ để bảo đảm cung ứng điện mùa khô là gì?
Ông Nguyễn Thế Hữu: Ngay từ cuối năm 2025, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3477/QĐ-BCT phê duyệt phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia năm 2026.
Trên cơ sở thực tế tăng trưởng nhu cầu phụ tải điện năm 2025 và dự báo, đánh giá các yếu tố đầu vào (nhu cầu phụ tải, tình hình thủy văn, khả năng cung cấp nhiên liệu, tiến độ nguồn điện, lưới điện cho năm 2026), Bộ Công Thương đã phê duyệt mức tăng trưởng phụ tải điện với 3 phương án.
Cụ thể: Phương án cơ sở với mức tăng trưởng phụ tải điện dự kiến là 8,5%; phương án điều hành với mức tăng trưởng phụ tải điện dự kiến là 11,7%; phương án dự phòng điều hành các tháng cao điểm mùa khô với mức tăng trưởng phụ tải điện dự kiến là 14,1%.
Ông Nguyễn Thế Hữu, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương). Ảnh: Quốc Chuyển.
Thực tế xảy ra trong tháng 4, tháng 5 vừa qua, chúng ta đã thấy xuất hiện tình trạng có nhiều đợt nắng nóng kéo dài. Đỉnh điểm xảy ra vào cuối tháng 5, nhiệt độ ở khu vực miền Bắc nhiều ngày liên tiếp tăng lên 40 độ C. Diễn biến thời tiết cực đoan đã làm nhu cầu sử dụng điện, đặc biệt là phụ tải điện sinh hoạt và làm mát tăng cao đột biến, gây áp lực rất lớn đến công tác vận hành và bảo đảm cung ứng điện.
Trước diễn biến thời tiết như vậy, Bộ Công Thương đã chỉ đạo Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) phối hợp với EVN và các đơn vị để đánh giá, cập nhật lại kịch bản vận hành của hệ thống điện quốc gia. Dự báo, tổng sản lượng điện toàn hệ thống trong cả năm 2026 tăng khoảng 9,1% so với năm 2025 (cao hơn so với phương án cơ sở nhưng vẫn thấp hơn phương án điều hành). Bộ cũng chỉ đạo NSMO hàng tháng sẽ tính toán cập nhật lại các phương thức vận hành cung cấp điện cho các tháng còn lại trong năm.
Để đảm bảo cung cấp điện cho năm 2026 - năm được đánh giá có rất nhiều thách thức vì hiện tượng El Nino, nắng nóng cao hơn rất nhiều so với năm 2025, Bộ Công Thương đã và đang tập trung chỉ đạo một số nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, đối với các đơn vị điện lực, NSMO sẽ phải tập trung cao độ và theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình phụ tải để cập nhật phương thức vận hành cho sát với thực tế.
Thứ hai, đảm bảo đủ nhiên liệu cho phát điện trong mọi tình huống, đặc biệt là các nguồn nhiên liệu than, LNG, dầu cần được chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng huy động khi hệ thống điện có nhu cầu trong các giai đoạn nắng nóng kéo dài.
Thứ ba, Bộ đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất cấp có thẩm quyền cho phép vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy điện nhằm duy trì cột nước của các hồ chứa trong mùa khô, không để các nhà máy thủy điện bị suy giảm công suất; đồng thời, có phương án chủ động tích nước cho các hồ thủy điện để ứng phó hiện tượng El Nino, giúp vừa phát điện vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ở hạ du của các tỉnh.
Thứ tư, yêu cầu các nhà máy phải duy trì độ khả dụng cao nhất của các tổ máy, hạn chế tối đa việc dừng tổ máy do sửa chữa, bảo dưỡng trong giai đoạn cao điểm mùa khô 2026. Đồng thời, phải giám sát chặt chẽ việc vận hành của các nhà máy điện và lưới điện để đảm bảo vận hành an toàn.
Thứ năm, tập trung chỉ đạo các chủ đầu tư dự án công trình phải có giải pháp đôn đốc các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ để đưa vào vận hành các công trình nguồn điện và lưới điện quan trọng. Chẳng hạn, trong tháng 4, chúng ta đã đóng điện được nhà máy BOT Vũng Áng 2 (tổ máy số 2) để bổ sung công suất, cũng như một số công trình tăng cường khả năng cung cấp khí ở Đông Nam Bộ.
Bên cạnh đó, sẽ chỉ đạo tiếp tục đối với nhà máy điện Quảng Trạch 1, nhà máy điện Na Dương 2 và các công trình đường dây phục vụ cho việc cung cấp điện. Trong đó, chỉ đạo các đơn vị của EVN đẩy nhanh tiến độ để đưa vào vận hành các hệ thống lưu trữ năng lượng BESS ở khu vực miền Bắc (800MW) sớm nhất để bổ sung khả năng cung cấp.
Thứ sáu, triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình quản lý nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải, sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, đặc biệt trong các khung giờ cao điểm nhằm góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia và nâng cao khả năng cung cấp điện an toàn, ổn định.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Bộ Công Thương cùng sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị trong ngành năng lượng, chúng tôi tin tưởng rằng hệ thống điện quốc gia sẽ tiếp tục được vận hành an toàn, ổn định, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Có thể thấy áp lực cung ứng điện mùa hè là rất lớn, trong đó sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả được xác định là giải pháp quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác này vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Theo ông, khó khăn lớn nhất hiện nay trong việc thúc đẩy tiết kiệm điện là gì, ví dụ về nhận thức, cơ chế hay công cụ thực hiện?
Ông Nguyễn Thế Hữu: Đây là một câu hỏi không dễ để trả lời, bởi tiết kiệm điện của người dân, khách hàng là một hành vi xã hội. Theo tôi, việc tiết kiệm điện của người dân sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố: Quy định của nhà nước, mức độ nhận thức của người sử dụng điện và động cơ thực hiện việc tiết kiệm điện.
Về quy định của nhà nước, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được ban hành và triển khai nhiều năm. Chính phủ có cả nghị định, chế tài đối với những trường hợp vi phạm quy định của Luật này. Thủ tướng cũng đã có nhiều chỉ thị, gần đây nhất là Chỉ thị số 09 và Chỉ thị số 10 liên quan đến việc tiết kiệm điện, tiết kiệm năng lượng.
Chúng ta luôn luôn nhấn mạnh việc tiết kiệm điện là một việc phải thực hiện thường xuyên và Thủ tướng năm nào cũng có các chỉ thị về vấn đề này. Nguyên nhân của việc chúng ta cần tiết kiệm điện có một số lý do.
Chúng ta luôn nhấn mạnh việc tiết kiệm điện là một việc phải thực hiện thường xuyên. Hằng năm, Thủ tướng Chính phủ đều ban hành các chỉ thị về vấn đề này. Nguyên nhân của việc cần tiết kiệm điện có hai lý do chính.
Thứ nhất, năng lượng không tự nhiên sinh ra hay mất đi và chúng ta phải đối mặt với sự hữu hạn của các nguồn năng lượng. Đối với những nguồn năng lượng hóa thạch như than, dầu, khí là những nguồn không tái tạo. Mặc dù, thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo và Việt Nam cũng đang khai thác hiệu quả nhưng quy mô khai thác của thủy điện cũng hữu hạn. Hàng năm, chúng ta có bổ sung các nguồn nhưng công suất cũng giới hạn.
Đối với các nguồn năng lượng tái tạo khác như điện mặt trời, điện gió lại có tính chất bất định, việc khai thác không được chủ động như các nguồn điện truyền thống.
Thứ hai, nguyên nhân về kinh tế. Chúng ta muốn khai thác các nguồn năng lượng như đề cập ở trên thì phải xây dựng các nhà máy điện, hệ thống điện truyền tải. Một số nguồn khi vận hành lại phải tiêu tốn vào nhiên liệu, đặc biệt một số nhiên liệu rất đắt như khí LNG hay dầu. Khi nhu cầu sử dụng điện càng tăng, chúng ta càng phải sử dụng những nguồn điện đắt hơn, khi đó vấn đề tiết kiệm điện càng cần thiết hơn.
Một vấn đề nữa là về khía cạnh kỹ thuật. Việc sử dụng điện cũng có giờ cao điểm và giờ thấp điểm. Trong trường hợp này, cũng tương tự như vấn đề giờ cao điểm của giao thông. Nếu như vào giờ cao điểm, ai ai cũng đi vào cùng một đoạn đường, sẽ dẫn đến kẹt xe, chậm trễ, gây tổn hao rất lớn cho xã hội. Sử dụng điện cũng như vậy, trong giờ cao điểm mọi người đồng loạt cùng sử dụng, hạ tầng điện đáp ứng cho việc này cũng khó.
Do đó với giao thông, người ta khuyến cáo tránh di chuyển vào đoạn đường tắc trong khung giờ cao điểm. Đối với điện cũng vậy, cần khuyến cáo người sử dụng điện hạn chế sử dụng điện cho những nhu cầu chưa cấp thiết trong giờ cao điểm, để tất cả mọi người đều có thể sử dụng điện cho những nhu cầu thiết yếu của mình.
Một ví dụ thực tế mới xảy ra trong những ngày 26-27/5 vừa qua, vào khung cao điểm tối từ khoảng 18-23 giờ, việc mọi người chung tay giảm nhu cầu không cần thiết đã giúp hệ thống điện bảo đảm phục vụ tốt những nhu cầu thiết yếu còn lại.
- Ngành điện đã có những tính toán, cải tiến hợp lý để minh bạch vấn đề tính toán hóa đơn tiền điện. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn công thức để tính hóa đơn tiền điện trong sinh hoạt, theo mức bậc thang sử dụng? Vì sao sử dụng càng nhiều thì phí phải trả lại càng tăng đột biến?
Ông Nguyễn Thế Hữu: Như các chuyên gia chia sẻ, vào mùa nắng nóng, nhu cầu phụ tải tăng lên thì sản lượng điện tăng, kéo theo tiền điện phải trả cũng tăng vọt.
Về công thức tính toán cụ thể thì ngay trên hóa đơn tiền điện sinh hoạt do điện lực phát hành (ví dụ như Tổng công ty Điện lực Hà Nội) đã có tính toán cụ thể, chi tiết cho từng bậc thang (số điện tiêu thụ của bậc thang x giá điện của bậc thang = số tiền điện của bậc thang. Tổng số tiền phải trả là tổng cộng số tiền điện của tất cả các bậc thang và sau đó cộng với thuế).
Như vậy, số lượng điện năng của mỗi hộ khách hàng sinh hoạt sử dụng hàng tháng sẽ được tính chia vào số điện tiêu thụ của mỗi bậc thang, bắt đầu từ bậc 1. Nếu khách hàng lưu ý thì sẽ thấy là giá điện của các bậc thang tăng dần. Điều đó có nghĩa là cùng 1 kWh điện thì ở bậc cao hơn sẽ phải áp giá cao hơn, số tiền phải trả cao hơn. Và đúng là khi sử dụng nhiều thì phần sử dụng thêm sẽ thường rơi vào các bậc thang sau, dẫn đến tiền điện tăng cao hơn.
Bên cạnh đó, để khách hàng cảm nhận sức nóng của mùa hè cũng như áp lực tiền điện, chúng tôi cũng áp dụng công tơ điện tử, thu thập số liệu tiêu thụ điện hàng ngày hoặc hàng tuần để cập nhật cho khách hàng, giúp họ có thể theo dõi sát sao. Điều quan trọng đối với khách hàng chính là sự minh bạch và rõ ràng.
Nguyên nhân của việc áp dụng giá bậc thang là vấn đề chi phí sản xuất. Điện năng là một hàng hóa đặc biệt, việc sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, việc lưu trữ điện năng rất đắt và tốn kém. Khi huy động các nhà máy điện phát điện, về nguyên tắc ngành điện sẽ huy động các nhà máy điện có giá rẻ phát điện trước, nhà máy đắt phát điện sau cho đến khi đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng điện của khách hàng.
Khi nhu cầu tổng của hệ thống điện tăng thì các nguồn điện có chi phí sản xuất đắt hơn như LNG, dầu sẽ được huy động, dẫn đến chi phí sản xuất điện tăng cao hơn. Ngoài ra cũng phải tính toán chi phí đầu tư các nguồn điện phủ đỉnh là các nguồn điện chỉ phục vụ cho thời gian cao điểm, lưới điện cũng phải mở rộng để đáp ứng nhu cầu khi cao điểm.
Với đặc điểm này, nhằm khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, hiện nay rất nhiều nước trên thế giới kể cả các nước tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc hay các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines… đều áp dụng giá điện theo các bậc thang và giá điện của bậc thang sau cũng cao hơn so với bậc thang đầu tương tự như Việt Nam.
- Thưa ông, vào tháng 3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 09 và Chỉ thị số 10. Theo ông, các chỉ thị này có ý nghĩa thế nào và Bộ Công Thương phối hợp với các địa phương ra sao để các nội dung của các chỉ thị đi vào thực chất?
Ông Nguyễn Thế Hữu: Chỉ thị số 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện là giải pháp nhằm đối phó với tình trạng biến động, khủng hoảng năng lượng trên thế giới.
Còn Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà - ban hành trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng cao, đặc biệt trong các tháng cao điểm nắng nóng.
Đây là những chỉ đạo rất kịp thời, có ý nghĩa quan trọng không chỉ trước mắt đối với công tác bảo đảm cung ứng điện năm 2026 mà còn đối với quá trình chuyển dịch năng lượng bền vững trong dài hạn và tiến dần tới việc đảm bảo tự chủ về an ninh năng lượng.
Để triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã ban hành các kế hoạch hành động để triển khai các chỉ thị nêu trên và có giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trong Bộ cũng như các đơn vị trong ngành điện lực để triển khai phối hợp thực hiện các chỉ tiêu cụ thể ở trong các chỉ thị của Thủ tướng.
Ví dụ như, phấn đấu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026. Đồng thời, triển khai đồng bộ các chương trình quản lý nhu cầu điện (DSM), điều chỉnh phụ tải điện (DR), phấn đấu tiết giảm tối thiểu 3.000 MW công suất phụ tải trong các khung giờ cao điểm khi hệ thống điện có nguy cơ mất cân đối cung - cầu.
Ngày 26/5/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng đã họp trực tiếp và trực tuyến với các Sở Công Thương các tỉnh, thành phố, các tập đoàn nhà nước trong lĩnh vực năng lượng để đốc thúc việc triển khai Chỉ thị số 09, Chỉ thị số 10, đồng thời ứng phó với nhu cầu điện tăng cao trong đợt nắng nóng này.
Trong đó, đề nghị các tỉnh triển khai quyết liệt các giải pháp dịch chuyển phụ tải, giảm nhu cầu sử dụng điện trong thời gian cao điểm tối (ví dụ như tắt các bóng đèn trang trí, giảm bớt đèn quảng cáo không cần thiết…).
Cùng với những nỗ lực của các đơn vị điện lực, sự chung tay của các khách hàng sử dụng điện lớn, nhất là ở khu vực miền Bắc, phụ tải cao điểm tối các ngày nắng nóng cực điểm ngay sau đó (tối ngày 26-28/5) đã được kìm giữ lại. Đây chắc chắn cũng có phần đóng góp từ các tỉnh, thành phố.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đồng hành, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương để giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai các Chỉ thị theo đúng nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao.
Xin cảm ơn ông!
Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng trưởng ở mức cao để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hai con số, đặc biệt dưới tác động của quá trình điện khí hóa nền kinh tế, chuyển đổi số và chuyển dịch năng lượng, Bộ Công Thương xác định sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, quản lý nhu cầu điện (DSM) và phát triển điện mặt trời mái nhà là những giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định.