Lăng Quận Mãn trong cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh núi An Hoạch (người địa phương quen gọi là núi Nhồi) thuộc phường Đông Quang (tỉnh Thanh Hóa) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích Quốc gia năm 1992.
Khu lăng mộ đá này có giá trị rất lớn về lịch sử và nghệ thuật điêu khắc đá, bởi hầu hết các tượng người, linh vật, văn bia đều được làm bằng đá xanh nổi tiếng của núi Nhồi. Lăng được đích thân Quận công Lê Trung Nghĩa (không rõ năm sinh, mất năm 1786) cho xây dựng trên chính quê hương ông dưới thời Lê Trung Hưng.

Theo sử sách, Lê Trung Nghĩa người làng Tu, thôn Nhuệ thuộc xã An Hoạch, tổng Quảng Chiếu, huyện Đông Sơn (nay là phường Hạc Thành, Thanh Hóa). Vì nhà nghèo nên ông phải bỏ quê ra đi tránh việc nấu chè kho khao làng theo tục lệ. Sau khi rời làng, ông đi lính, được chọn làm quân cấm vệ và đã tình nguyện tịnh thân để phục vụ trong cung, thăng đến chức Đô đốc Tổng trấn tước Quận Công, mọi người quen gọi là Quận Mãn

Tháng 11 năm 1786, vua Lê Chiêu Thống và chúa Trịnh Bồng xảy ra xung khắc. Lê Chiêu Thống sai tướng Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An kéo quân ra hộ giá. Chúa Trịnh Bồng cử Trấn thủ Thanh Hoa Lê Trung Nghĩa làm tham lĩnh và Đốc đồng Phan Huy Ích làm đốc thị kéo quân chặn đánh Nguyễn Hữu Chỉnh ở địa phận huyện Tĩnh Gia (cũ) nhưng thất bại Lê Trung Nghĩa bị giết.

Khi còn sống, biết mình không có con cháu thờ tự, ông đã bỏ tiền mua ruộng đất của 9 làng quanh khu vực để chia cho người dân canh tác. Dân làng cảm kích trước công đức của ông nên đã xin lập một nơi thờ tự ngay khi ông còn sống.

Khu lặng mộ này được các nghệ nhân đá làng Nhồi xây dựng với nhiều công trình thờ tự bằng các pho tượng đá nguyên khối. Khi Quận công Lê Trung Nghĩa mất, ông được dân làng đưa về chôn cất tại đây và sau này người dân hay gọi là khu lăng mộ Quận Mãn.

Được biết, trước đây lăng mộ có nhà thờ, song do chiến tranh tàn phá, nên lăng hiện chỉ còn lại nền móng cùng một số hiện vật bằng đá với hai dãy tượng voi và ngựa, 10 tượng quan văn võ…
Hiện, Khu lăng mộ chính nằm trên diện tích khoảng 200m2, gồm nhiều hạng mục kiến trúc bằng đá độc đáo, từ cổng vào là 2 tượng lính canh, bên trái là tượng hình rùa dài gần 1,5m, rộng 1m, cao khoảng 0,5m bằng đá.

Bên trong khu lăng chính (diện tích hơn 50m2) từng có một ngôi đình, nay chỉ còn lại các trụ đá. Từ ngoài vào có 2 con chó đá cao khoảng 1,5m đứng gác. Hai bên bậc thềm chính điện có đôi rồng đá được chạm khắc rất tinh xảo.

Chính giữa là một ngai lớn bằng đá, phía trước là một bàn đá nguyên khối dài gần 1m, rộng 0,5m. Hai bên là hàng tượng đá đứng chầu, mỗi bên có tượng 5 quan văn, quan võ, một đôi ngựa đá và một đôi voi đá đang quỳ.

Ngoài ra, ở khu một còn có 4 tấm bia đá (mỗi bên hai tấm) cao khoảng 2m, rộng 1,2m và dày 15cm. Các bia đá này được khắc chữ Hán cổ, do ông Lê Quý Thuần (con trai nhà bác học Lê Quý Đôn) biên soạn, ghi lại tiểu sử Quận công Mãn, địa giới và diện tích đất của 9 làng từng được ông chu cấp, cũng như các làng được giao phó việc cúng tế.




