Longform
17/02/2026 19:21
Xe và Công nghệ

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia

Thứ Ba, 17/02/2026 19:21:00 +07:00

(Công Thương) - Khi dữ liệu vệ tinh trở thành tài nguyên chiến lược, kinh tế vũ trụ trở thành động lực tăng trưởng mới. Việt Nam đứng trước cơ hội tham gia chuỗi giá trị không gian này.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 1

 

Từ vai trò hạ tầng dữ liệu cho chuyển đổi số, công nghệ vũ trụ đang bước sang giai đoạn tạo giá trị kinh tế trực tiếp. Không gian vũ trụ không chỉ còn là lĩnh vực nghiên cứu khoa học, mà đang trở thành “biên giới phát triển mới” của nhiều quốc gia.Trong xu thế đó, Việt Nam đứng trước cơ hội xây dựng ngành kinh tế vũ trụ gắn với dữ liệu viễn thám, dịch vụ không gian, hạ tầng số và hệ sinh thái ứng dụng đa ngành, đồng thời bảo đảm chủ quyền dữ liệu và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 2

 

Nói về ứng dụng, PGS.TS Phạm Anh Tuấn – Tổng giám đốc Trung tâm Vũ trụ (VNSC) thẳng thắn cho rằng Việt Nam lâu nay trong nhiều lĩnh vực vẫn phải phụ thuộc ảnh vệ tinh nước ngoài. Khi xảy ra lũ lụt, ngập úng, thiên tai muốn có ảnh khu vực bị ngập, mức độ ngập, phạm vi ngập…chúng ta thường phải “nhờ chụp hộ”, vừa không kịp thời, vừa phụ thuộc khả năng chia sẻ dữ liệu.

Ông cho rằng, nếu có hệ thống quan sát tốt, Việt Nam có thể dự báo nguy cơ sạt lở, nhận diện khu vực rủi ro theo diễn biến mưa lớn, qua đó cảnh báo sớm để giảm thiệt hại.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 3

 

Tổng giám đốc VNSC khẳng định: Đầu tư công nghệ vũ trụ là loại đầu tư khó nhìn thấy ngay, nhưng nếu nhìn ở tầm vĩ mô, đó là đầu tư để giảm thiệt hại và nâng năng lực điều hành quốc gia. Mỗi năm thiệt hại do thiên tai, bão lũ của Việt Nam có thể ở mức tối thiểu 1% GDP. Nếu lấy quy mô GDP khoảng 500 tỷ USD, thì 1% tương đương 5 tỷ USD thiệt hại. Chỉ cần có hệ thống công nghệ hiện đại, gồm vệ tinh quan sát Trái đất kết hợp dữ liệu mặt đất, giúp giảm thiểu được 10% thôi, thì đất nước đã giảm được khoảng 500 triệu USD. Số tiền này đủ để xây dựng cả một trung tâm vũ trụ.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 4

 

Từ phép tính đó, ông cho rằng nếu có tầm nhìn đúng, cách nhìn về đầu tư vũ trụ sẽ hoàn toàn khác: không phải “tốn kém”, mà là đầu tư cho năng lực dự báo, cảnh báo, ứng phó, giúp giảm thiệt hại và tối ưu nguồn lực điều hành.

Chia sẻ thêm về vấn đề này TS. Nguyễn Kim Anh -  Trung tâm Ứng dụng công nghệ Vũ trụ TP. Hồ Chí Minh - VNSC cho biết, ở lĩnh vực an ninh, quốc phòng dữ liệu vệ tinh có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp nâng cao năng lực chủ động trong giám sát biên giới, chủ quyền biển đảo. Khi có hệ thống vệ tinh riêng, Việt Nam có thể chủ động phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường như tàu lạ xuất hiện trong vùng biển, xả thải gây ô nhiễm, hoặc các hoạt động vi phạm trong vùng đặc quyền kinh tế. Nhờ dữ liệu ảnh theo chuỗi thời gian, có thể truy vết lộ trình, xác định nguồn gốc sự cố, thay vì chỉ xử lý khi sự việc đã xảy ra.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 5

 

TS Kim Anh cũng nhấn mạnh: “Để phát huy hiệu quả công nghệ vũ trụ, cần có đầu tư đồng bộ, liên tục và bền vững. Nếu chỉ triển khai theo chu kỳ dự án ngắn hạn rồi dừng lại, hệ thống dữ liệu và năng lực công nghệ sẽ bị gián đoạn, làm giảm hiệu quả đầu tư”.

Hiện, Việt Nam đang đối mặt nhiều thách thức trong việc bảo đảm quyền lợi và chủ quyền quốc gia trong không gian. Không gian vũ trụ đang trở thành không gian cạnh tranh chiến lược mới, nơi các quốc gia không chỉ đối đầu về công nghệ mà còn về quyền truy cập, kiểm soát và bảo vệ dữ liệu. Vì vậy, dữ liệu vệ tinh cần được coi là tài sản chiến lược, có cơ chế quản lý, phân quyền, mã hóa và bảo mật chặt chẽ để bảo đảm chủ quyền số và an ninh quốc gia.

Thực tế cũng cho thấy nhu cầu khai thác dữ liệu vệ tinh phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ngày càng cao, nhất là các lĩnh vực như quy hoạch hạ tầng, nông nghiệp công nghệ cao, giám sát tài nguyên, ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu. Các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu hiện nay phải minh chứng được nguồn gốc, quy trình sản xuất, tác động môi trường… Vì thế, dữ liệu định vị và quan sát từ vệ tinh trở thành công cụ bắt buộc.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 6

 

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng ngành kinh tế vũ trụ là xu thế tất yếu. Kinh tế vũ trụ bao gồm các hoạt động tạo ra giá trị liên quan nghiên cứu, sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ dựa trên công nghệ và hạ tầng không gian. Đây là ngành kinh tế mới, đang nổi lên như một động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên số. Năm 2024, kinh tế vũ trụ toàn cầu đạt quy mô 613 tỷ USD và dự báo sẽ tăng lên 1.400 tỷ USD vào năm 2030, cho thấy dư địa tăng trưởng lớn.

Tuy nhiên, để có năng lực chỉ đạo điều hành ở tầm quốc gia dựa trên dữ liệu, Việt Nam không chỉ cần vệ tinh mà cần một mô hình tích hợp, trong đó có trung tâm điều phối và trung tâm dữ liệu viễn thám quốc gia, nơi tập hợp dữ liệu từ nhiều nguồn: vệ tinh, trạm mặt đất, máy bay quan sát, UAV… tạo thành “viễn thám quốc gia” theo nghĩa đầy đủ.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 7

 

Về điều kiện để bứt phá, Tổng giám đốc VNSC nhấn mạnh ngoài nhân lực chất lượng cao, cần cơ chế đầu tư dài hạn và đặc biệt là cách nhìn đúng về rủi ro. “Công nghệ vũ trụ là công nghệ rủi ro rất cao. Ô tô hỏng còn sửa được dưới đất; vệ tinh rời bệ phóng rồi thì coi như không thể can thiệp. Chỉ cần sai sót nhỏ cũng có thể chậm tiến độ hoặc thất bại”, ông nói và cho rằng, Việt Nam đi sau thế giới hàng chục năm, nhưng Nghị quyết 57 là “mốc rất quan trọng” vì lần đầu công nghệ vũ trụ được đặt đúng vị trí trong nhận thức và định hướng chiến lược ở tầm cao.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 8

 

Từ Nghị quyết 57, chúng ta kỳ vọng ngành công nghiệp vũ trụ Việt Nam sớm tăng tốc để nằm trong nhóm dẫn đầu Đông Nam Á. Bởithực tế một số nước trong khu vực đã thành lập cơ quan hàng không vũ trụ, trực tiếp do nguyên thủ quốc gia điều hành, cho thấy cạnh tranh khu vực đang rất quyết liệt.

Nếu Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển vào 2045, thì không thể đứng ngoài công nghệ vũ trụ, bởi thế giới đã bước sang giai đoạn “kinh tế vũ trụ”, với quy mô thị trường rất lớn và nhiều xu hướng mới như: Internet vệ tinh, hệ thống dữ liệu, trung tâm dữ liệu đưa lên quỹ đạo.”- PGS. TS Phạm Anh Tuấn bày tỏ.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 9

 

Đã gần 20 năm kể từ những ngày đầu khởi động chiến lược vụ trụ (từ năm 2006), đến nay, PGS.TS Phạm Anh Tuấn kiên định quan điểm, chúng ta không chỉ xây một tòa nhà nghiên cứu, mà phải hình thành một trung tâm đúng nghĩa với định hướng chiến lược, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, tạo nền tảng để phát triển bền vững.

Thực tế cho thấy, nhiều tập đoàn công nghệ lớn và các tỷ phú hàng đầu thế giới đã và đang tham gia vào lĩnh vực vũ trụ. Đây là tín hiệu cho thấy vũ trụ đang trở thành “biên giới kinh tế mới”, khi các kế hoạch đã không chỉ dừng ở quỹ đạo Trái đất mà còn hướng tới Mặt Trăng, xa hơn là Sao Hỏa, với các tính toán dài hạn về năng lượng, nhiên liệu, vật liệu và tài nguyên.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 10

 

Với các chính sách hiện có và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, câu hỏi đặt ra, đến năm 2045 liệu Việt Nam có thể trở thành quốc gia sở hữu chuỗi giá trị công nghệ vệ tinh mang tính cạnh tranh khu vực? GS. Trần Tuấn Anh – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết: Đến năm 2045, mục tiêu của chúng ta là làm chủ công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp theo lộ trình, đủ năng lực tự thiết kế, chế tạo, tích hợp, thử nghiệm và vận hành một số dòng vệ tinh, đồng thời hình thành hệ sinh thái để đưa dữ liệu vệ tinh vào các ứng dụng thực tiễn phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và bảo đảm chủ quyền dữ liệu.

Nền tảng để tiến tới mục tiêu đó là các kết quả đã được tích lũy qua nhiều năm, từ các vệ tinh thông tin như VINASAT-1, VINASAT-2 đến các vệ tinh quan sát Trái Đất và các vệ tinh do đội ngũ Việt Nam tham gia phát triển, vận hành như VNREDSat-1, PicoDragon, MicroDragon, NanoDragon, và sắp tới là LOTUSat-1 tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 11

 

Theo GS. Trần Tuấn Anh, trong bối cảnh kinh tế vũ trụ toàn cầu tăng trưởng nhanh, có thể đạt quy mô khoảng 1.400 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030, Việt Nam cần tổ chức phát triển ngành theo hướng dài hạn, có trọng tâm và dựa trên hiệu quả đo đếm được. Việt Nam có thể hướng tới năng lực cạnh tranh trong khu vực và từng bước cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phù hợp, nhưng theo cách tiếp cận thực chất và bền vững. Trọng tâm là nâng độ tin cậy vận hành, chất lượng dữ liệu, rút ngắn thời gian chuyển hóa dữ liệu thành sản phẩm thông tin và tăng năng lực triển khai ứng dụng theo ngành.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 12

 

Khi các cơ quan nghiên cứu, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan sử dụng phối hợp hiệu quả theo chuỗi giá trị, Việt Nam sẽ có cơ sở củng cố vị thế một cách vững chắc, tập trung vào những phân đoạn tạo giá trị cao và phù hợp với điều kiện của mình”- GS. Trần Tuấn Anh khẳng định.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia - 13