Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ tư 28/07/2021 10:01

ASEAN giảm chi phí tuân thủ thương mại để khơi thông các chuỗi giá trị khu vực

09:18 | 16/07/2021
Đại dịch COVID-19 đang diễn ra đã làm gián đoạn dòng chảy thương mại trong khu vực và nêu bật tầm quan trọng của việc tạo thuận lợi cho thương mại hàng hóa giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Hồi tháng 3, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự đoán rằng khối lượng thương mại hàng hóa toàn cầu dự kiến ​​sẽ tăng 8% vào năm 2021 và 4% vào năm 2022, sau khi giảm 5,3% vào năm 2020.

Giảm chi phí tuân thủ thương mại cao có thể thúc đẩy ASEAN phục hồi thương mại. Ở châu Á, tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa dự kiến ​​sẽ tăng từ 0,3% vào năm 2020 lên 8,4% vào năm 2021 và 3,5% vào năm 2022. Nhưng tính đến tháng 6 năm nay, chỉ có 3,2% tổng dân số ASEAN đã được tiêm chủng đầy đủ. Tỷ lệ tiêm chủng thấp trên toàn ASEAN và các đợt nhiễm COVID-19 mới cùng với các hạn chế xuất khẩu tạm thời đối với thực phẩm và vật tư y tế có thể làm giảm tốc độ phục hồi của khu vực. ASEAN cẩn đẩy nhanh việc tiêm chủng để giảm nguy cơ bùng phát thêm COVID-19 và nâng cao chuỗi giá trị khu vực để thúc đẩy sự phục hồi.

ASEAN giảm chi phí tuân thủ thương mại để khơi thông các chuỗi giá trị khu vực

Các thương nhân ASEAN, các nhà giao nhận hàng hóa và các nhà điều hành xe tải phải tuân thủ các yêu cầu về thủ tục và chứng từ khác nhau do các nước thành viên áp đặt. Cơ sở dữ liệu Kinh doanh của Ngân hàng Thế giới tiết lộ rằng số lượng chứng từ cần thiết cho hàng nhập khẩu dao động từ 5 ở Singapore và 6 ở Philippines đến 8 ở Malaysia và Việt Nam, 9 ở Campuchia, Indonesia và Thái Lan và 10 ở Lào và Myanmar. Chi phí tuân thủ chứng từ đối với hàng nhập khẩu từ khoảng 40 USD ở Singapore và Thái Lan đến 60 USD ở Malaysia, 115 USD ở Lào, 120 USD ở Campuchia, 164 USD ở Indonesia, 183 USD ở Việt Nam và 210 USD ở Myanmar. Chi phí tuân thủ thương mại cao cản trở sự phát triển của các chuỗi giá trị khu vực mà qua đó hàng hóa di chuyển qua biên giới nhiều lần. Các biện pháp ngăn chặn COVID-19 như kiểm tra bắt buộc và thời gian cách ly 14 ngày đối với tài xế xe tải làm tăng thêm các yêu cầu phức tạp về chứng từ và các chi phí liên quan.

Vào tháng 11/2020, Ban Thư ký ASEAN đã công bố Khuôn khổ Phục hồi Toàn diện ASEAN (ACRF) và kế hoạch thực hiện, trong đó đề ra các chiến lược và xác định các biện pháp phục hồi phù hợp với các ưu tiên của ngành và khu vực. Các biện pháp tạo thuận lợi thương mại của ACRF bao gồm hài hòa hóa các tiêu chuẩn đối với hàng hóa thiết yếu và mở rộng Cơ chế hải quan một cửa ASEAN (ASW) cho các đối tác đối thoại của ASEAN. Điều này nhằm mục đích giảm chi phí tuân thủ và những trở ngại về thủ tục cho thương nhân. Những sáng kiến ​​này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cải cách các biện pháp phi thuế quan và tạo thuận lợi thương mại nhưng sẽ chỉ tăng cường dòng chảy thương mại khu vực trong trung hạn.

ASW mất 14 năm để thành lập. Nó kết nối và tích hợp Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) để trao đổi điện tử các tài liệu liên quan đến thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Ba thách thức chính đối với việc thành lập ASW bao gồm các chế độ và luật lệ hải quan khác nhau, các mức độ tự động hóa khác nhau và chi phí tài chính cao khi thành lập NSW ở các quốc gia thành viên. Các thành viên ASEAN sẽ cung cấp các biện pháp tạo thuận lợi thương mại bổ sung cho các thương nhân và nhà cung cấp dịch vụ hậu cần đáng tin cậy theo Điều 7.7 của Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại của WTO. Điều này yêu cầu các thành viên WTO, bao gồm tất cả các nước thành viên ASEAN, cung cấp các biện pháp tạo thuận lợi thương mại bổ sung liên quan đến các thủ tục và quy trình nhập khẩu, xuất khẩu hoặc quá cảnh cho các nhà điều hành đủ điều kiện là nhà điều hành kinh tế được ủy quyền (AEO) theo các tiêu chí cụ thể. Các AEO tiềm năng bao gồm các thương nhân và nhà cung cấp dịch vụ hậu cần như đại lý hải quan, nhà điều hành xe tải và nhà giao nhận hàng hóa.

Nếu Điều 7.7 được thực hiện đầy đủ, sẽ có ít kiểm tra thực tế hơn, thời gian phát hành nhanh hơn và giảm các yêu cầu về chứng từ và dữ liệu đối với các công ty AEO hoạt động trên khắp ASEAN. Mặc dù dữ liệu về thời gian thông quan của các công ty AEO ở ASEAN không có sẵn, nhưng việc thực hiện chương trình AEO ở Brazil cho thấy thời gian thông quan xuất khẩu và nhập khẩu trung bình của các công ty AEO nhanh hơn lần lượt là 65% và 81% so với các công ty không thuộc AEO. Hải quan và các cơ quan quản lý biên giới khác có thể phân bổ nguồn lực của họ tốt hơn để kiểm tra lô hàng rủi ro hơn và các thủ tục phức tạp hơn do an ninh chuỗi cung ứng được tăng cường. Việc công nhận các AEO là đối tác kinh doanh an toàn và bảo mật cũng sẽ cải thiện mối quan hệ giữa họ và các cơ quan quản lý biên giới. Các thành viên ASEAN đang ở các giai đoạn khác nhau trong việc thực hiện Điều 7.7. Các cam kết thực hiện được thông báo với WTO cho thấy Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã và đang thực hiện các nghĩa vụ của chương trình AEO kể từ tháng 2/2017. Brunei và Việt Nam sẽ sẵn sàng thực hiện vào tháng 2/2022 và tháng 1/2024. Campuchia, Lào và Myanmar có kế hoạch thực hiện Điều 7.7 sau một giai đoạn chuyển tiếp nhưng vẫn chưa xác định được ngày thực hiện chính thức.

Việc sử dụng các tiêu chí AEO cần đảm bảo một thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) đối với chương trình AEO của WTO ở cấp song phương và khu vực trong ASEAN. MRA có thể được thiết lập giữa các nền kinh tế đang phát triển của ASEAN và sau đó mở rộng sang các quốc gia thành viên ASEAN còn lại. Phạm vi rộng hơn của MRA sẽ cải thiện hiệu quả thương mại thông qua việc giảm thời gian và chi phí liên quan đến kiểm soát hải quan xuyên biên giới. Điều này sẽ bổ sung cho các nỗ lực mở rộng ASW và hợp lý hóa các biện pháp phi thuế quan trong khu vực và thúc đẩy hơn nữa thương mại bên trong và bên ngoài của ASEAN bằng cách làm cho các công ty AEO đơn giản hơn, nhanh hơn và tiết kiệm chi phí hơn.

Việt Dũng