Nhiệm vụ đầu tiên, phiên họp Chính phủ đầu tiên
Cách đây 80 năm, ngày 9/11/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã biểu quyết thông qua bản Hiến pháp đầu tiên. Hiến pháp năm 1946 không chỉ là một văn kiện pháp lý mang tính cột mốc, mà còn là bản tuyên ngôn về một nhà nước dân chủ thực sự - nơi chủ quyền quốc gia thuộc về toàn thể nhân dân; là “ngọn đuốc soi đường” cho tư tưởng xây dựng một nhà nước thực sự “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.
Bản Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946. Ảnh: Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt việc làm Hiến pháp vào danh sách 6 nhiệm vụ cấp bách ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3/9/1945, khi nước mới độc lập được một ngày. Người nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ." - (trích: Hồ Chí Minh, Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia).
Từ câu nói ấy đến ngày Quốc hội biểu quyết là 14 tháng. Trong 14 tháng đó, nạn đói năm Ất Dậu vừa đi qua, quân Tưởng kéo vào phía Bắc, quân Pháp nổ súng ở Nam Bộ, ngân khố gần như trống rỗng.
Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh số 34-SL thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm bảy người: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thuỵ, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu. Bảy cái tên ấy gồm cả lãnh tụ cách mạng, cựu hoàng đế vừa thoái vị, nhà văn hoá, luật gia, người làm công tác kinh tài của Đảng. Bản dự án do Uỷ ban soạn, sau khi trình Hội đồng Chính phủ, được công bố công khai để toàn dân bàn bạc, góp ý.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu ra Quốc hội. Ngày 2/3/1946, phiên họp đầu tiên của Quốc hội khoá I tại Nhà hát Lớn Hà Nội bầu Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người: Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục Viên. Quốc hội giao Ban triển khai việc dự thảo, đồng thời nghiên cứu Quốc kỳ, Quốc ca để trình Ban Thường trực Quốc hội.
Trang Việt Nam Dân quốc Công báo số ra ngày 13/4/1946 đăng biên bản phiên họp đầu tiên của Quốc hội khoá I, có danh sách Ban dự thảo Hiến pháp. Ảnh: Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Thành phần 11 người phản ánh đúng tinh thần đại đoàn kết của Quốc hội đầu tiên. Có bác sĩ, nhà thơ, nhà văn, luật gia, nhà giáo, một nữ đại biểu. Có người của Việt Minh, có người của các đảng phái khác. Có cả người của bộ làm kinh tế: ông Đào Hữu Dương, cử nhân luật, một tháng sau được cử làm Ty trưởng Ty Pháp chế Bộ Quốc dân Kinh tế (Cơ quan tiền thân của Bộ Công Thương hôm nay) vì thế có mặt trong căn phòng soạn bản Hiến pháp đầu tiên.
Một nghị trường nhiều thành phần
Thành phần Ban dự thảo phản ánh thành phần của chính Quốc hội. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 diễn ra trong cả nước, kể cả ở những vùng đang có chiến sự ác liệt; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh khi làm nhiệm vụ bầu cử. Cả nước bầu 333 đại biểu, trong số đó, 87% là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; có 10 đại biểu nữ, 34 đại biểu các dân tộc ít người; 57% đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không thuộc đảng phái nào.
Cảnh chuẩn bị bầu cử Quốc hội khoá I tại ngõ Phất Lộc, Hà Nội, năm 1946. Ảnh tư liệu.
Trước cuộc Tổng tuyển cử, nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tập hợp các lực lượng yêu nước trong bối cảnh đất nước đứng trước nhiều khó khăn, thử thách, ngày 23/12/1945, Việt Minh, Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) đạt được thỏa thuận về tăng cường đoàn kết, mở rộng Chính phủ lâm thời và dành 70 ghế trong Quốc hội cho đại diện Việt Quốc, Việt Cách không qua bầu cử. Đây là chủ trương thể hiện tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.
Tại kỳ họp thứ hai, kỳ họp thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, Quốc hội có 290 đại biểu tham dự, đại diện cho nhiều thành phần xã hội, tổ chức chính trị và tầng lớp nhân dân. Sự đa dạng về thành phần đại biểu thể hiện tinh thần đại đoàn kết, dân chủ và trách nhiệm chung đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.
| Phái | Nhóm | Người đứng đầu | Số đại biểu |
|---|---|---|---|
| Tả | Nhóm mác xít | Nguyễn Văn Tạo | 14 |
| Tả | Đảng Xã hội | Phan Tử Nghĩa, Nguyễn Xiển | 24 |
| Tả | Đảng Dân chủ | Đỗ Đức Dục, Tôn Quang Phiệt | 45 |
| Giữa | Việt Minh | Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Thi, Xuân Thủy | 80 |
| Giữa | Không đảng phái | 90 | |
| Hữu | Việt Cách | 17 | |
| Hữu | Việt Quốc | 20 | |
| Cộng | 290 |
Các phái trong Quốc hội tại kỳ họp thứ hai, tháng 10 và tháng 11/1946. Nguồn: Lịch sử Việt Nam tập 10, dẫn theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 đến 1960.
Không đảng phái nào chiếm quá nửa nghị trường. Mỗi điều khoản Hiến pháp vì thế phải được bàn đến nơi đến chốn, phải thuyết phục được nhiều nhóm khác nhau. Đó là nghị trường đã làm ra bản Hiến pháp đầu tiên.
Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I họp từ ngày 28/10 đến ngày 9/11/1946. Đây là lần đầu tiên công chúng được vào dự thính kỳ họp. Lãnh sự quán các nước Anh, Mỹ, Trung Hoa, Thuỵ Sĩ cử đại diện dự phiên khai mạc, cùng phóng viên báo chí Việt Nam, Mỹ, Pháp, Trung Hoa.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại trong hồi ký: Sáng 28/10, Quốc hội họp tại Nhà hát Lớn. Khách nước ngoài gồm lãnh sự Anh, Mỹ, Hoa cùng người thay mặt tướng Morlière ngồi với các nhà báo trong những lô dành riêng ở tầng hai. 70 ghế dành cho Việt Quốc, Việt Cách từ kỳ họp đầu tiên, nay đã để trống gần một nửa.
Phiên khai mạc mở ra bằng một khoảnh khắc lặng người. Đại biểu tỉnh Rạch Giá Nguyễn Văn Tạo thay mặt Nam Bộ chào mừng Quốc hội, nhắc tới những đại biểu miền Nam vắng mặt: luật sư Thái Văn Lung đã bị địch tra tấn chết trong khám lớn Sài Gòn, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát cùng nhiều nhà yêu nước khác còn bị giam ở Côn Đảo.
Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I. Ảnh tư liệu.
Bản dự thảo Hiến pháp được thảo luận kỹ lưỡng. Đại diện các nhóm, các đảng trong Quốc hội bày tỏ quan điểm thẳng thắn. Tranh luận gay gắt nhất xoay quanh chế độ một viện. Phần lớn đại biểu ủng hộ, cho rằng chế độ tập quyền và phân công thích hợp để ứng phó với thời cuộc luôn biến chuyển; trong số người lên tiếng ủng hộ có ông Nguyễn Sơn Hà, chủ hãng sơn Gecko ở Hải Phòng.
Ngày 29/10, Ban dự thảo được mở rộng thêm 10 đại biểu, gồm đại biểu các nhóm, đại biểu trung lập, đại biểu Nam Bộ, đại biểu đồng bào dân tộc thiểu số. Đầu tháng 11, Quốc hội bước vào thảo luận từng điều của bản dự thảo. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những cuộc tranh luận diễn ra sôi nổi.
Ngày 9/11/1946, Quốc hội biểu quyết thông qua Hiến pháp với 240 phiếu tán thành trên tổng số 242 phiếu. Hai đại biểu không tán thành là ông Phạm Gia Đỗ và ông Nguyễn Sơn Hà. Hai lá phiếu ấy được ghi lại đầy đủ. Một nghị trường có phiếu thuận, có phiếu không thuận, được ghi tên rõ ràng, chính là bằng chứng cho tính dân chủ thật của Quốc hội đầu tiên.
Bản Hiến pháp gồm Lời nói đầu, 7 chương, 70 điều. Bố cục gọn, chữ nghĩa giản dị, ai biết đọc quốc ngữ cũng hiểu.
| Chương | Nội dung | Số điều |
|---|---|---|
| I | Chính thể | 3 |
| II | Nghĩa vụ và quyền lợi công dân | 18 |
| III | Nghị viện nhân dân | 21 |
| IV | Chính phủ | 14 |
| V | Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính | 6 |
| VI | Cơ quan tư pháp | 7 |
| VII | Sửa đổi Hiến pháp | 1 |
Bố cục Hiến pháp năm 1946. Nguồn: toàn văn Hiến pháp năm 1946.
Lời nói đầu đặt ba nguyên tắc: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Nhiệm vụ của dân tộc được ghi rõ: "bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ". Hai chữ "kiến thiết" đứng ngay trong câu nêu nhiệm vụ, cạnh chữ "độc lập". Ngay từ văn bản gốc của nhà nước, xây dựng kinh tế đã được đặt ngang hàng với giữ nước.
Tầm nhìn đi trước thời đại
Tầm nhìn của Hiến pháp năm 1946 hiện ra rõ nhất ở những điều mà thời ấy nhiều nước chưa làm.
Điều 1 trao toàn bộ quyền bính cho nhân dân, "không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo". Điều 9 ghi: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện." Điều 17 và Điều 18 quy định chế độ phổ thông đầu phiếu, công dân từ 18 tuổi không phân biệt gái trai đều có quyền bầu cử. Điều 21 trao cho nhân dân quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Điều 41 cho cử tri quyền đề nghị bãi miễn đại biểu mình đã bầu.
Một nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa, theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh có "hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ", đã ghi vào luật cơ bản quyền bầu cử bình đẳng của phụ nữ, quyền phúc quyết của toàn dân, quyền bãi miễn của cử tri. Đó là lựa chọn của những người tin vào dân.
80 năm sau, tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên sáng 6/11/2026 ở Nhà Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại giá trị sâu xa ấy: gắn thành quả giành độc lập dân tộc với quyền làm chủ của Nhân dân và việc tổ chức chính quyền bằng Hiến pháp. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: "Sức mạnh của Nhà nước bắt nguồn từ Nhân dân và phải được sử dụng để phụng sự Nhân dân", coi đó là di sản quan trọng của Hiến pháp năm 1946 đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hôm nay.
Toàn cảnh Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Ảnh: Cổng Thông tin điện tử Quốc hội.
Ở phiên bế mạc ngày 9/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng lời ghi nhận công sức của nghị trường: "Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã khó nhọc làm việc. Quốc hội đã thu được một kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến pháp. Sau khi nước nhà mới tự do được 14 tháng, đã làm thành được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà". Người đánh giá: "Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế". Người nói tiếp rằng Hiến pháp tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông. Bản Hiến pháp còn nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam cùng "một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp".
Ngay sau câu ấy, Người nói về kinh tế: "Quốc hội đã thông qua bản Luật lao động. Kiến thiết phải sản xuất. Sản xuất phải cần có sức lao động." Lời bế mạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định ý nghĩa lịch sử của bản Hiến pháp đầu tiên mà còn nhấn mạnh vai trò của sản xuất trong công cuộc kiến thiết đất nước, gắn liền với sứ mệnh của ngành Công Thương - nội dung sẽ được đề cập trong bài tiếp theo.
Còn nữa...