
11 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu chè đạt 127,77 nghìn tấn, trị giá 212,4 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu chè nhiều nhất sang thị trường Đài Loan (Trung Quốc).

Việt Nam là thị trường cung cấp chè lớn thứ hai cho Thái Lan tăng 29,99% về lượng và tăng 13,42% về trị giá so với 9 tháng đầu năm 2024.

Trong khi xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn sụt giảm thì xuất khẩu sang Châu Phi tăng mạnh cả về lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2019.

Hội chợ Mùa Thu 2025 mở ra cơ hội kết nối giao thương quốc tế, giúp nhiều sản phẩm OCOP tiếp cận người mua chuyên nghiệp và kỳ vọng vươn ra thị trường thế giới.

Chè Việt đặt mục tiêu vươn ra thế giới bằng sản xuất xanh, chuẩn hóa chất lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Tháng 8/2025, giá chè xuất khẩu bình quân đạt 1.867 USD/tấn, tăng 5,9% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi còn chậm.

7 tháng đầu năm 2025, chè Việt Nam chiếm 0,57% trong tổng lượng chè nhập khẩu của Pakistan, tăng nhẹ so với mức 0,56% cùng kỳ năm 2024.

Dù đứng thứ 5 thế giới về sản lượng xuất khẩu nhưng thiếu chế biến sâu và thương hiệu rõ ràng khiến chè Việt Nam chỉ chiếm thị phần rất nhỏ tại các thị trường lớn.

Xuất khẩu chè phục hồi trong quý II/2025, mở ra kỳ vọng tăng trưởng tại các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản nhờ cải thiện chất lượng sản phẩm.

4 tháng năm 2025, Indonesia nhập khẩu chè từ Việt Nam đạt 3.253 tấn, trị giá 3,24 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 6,9 về trị giá so với cùng kỳ năm 2024.

6 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu chè giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ, song cơ hội phục hồi vẫn rộng mở nhờ nhu cầu có đà tăng ở một số thị trường lớn.

Giá chè xuất khẩu tăng gần 10% trong 5 tháng đầu năm 2025 mở ra thời cơ vàng để Việt Nam định vị lại thương hiệu chè trên thị trường quốc tế.

Từ những búp chè Shan tuyết của Hà Giang đến không gian trà Thái Nguyên, thương hiệu chè Việt đang vươn mình ra thế giới.

Tháng 3/2025, Pakistan là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, chiếm 22,93% về lượng và chiếm 27,73% tổng trị giá, đạt 4,09 triệu USD.

Xuất khẩu chè đen trong 2 tháng đầu năm 2025 tăng 7,5% về lượng và 8,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024, đạt 8,58 nghìn tấn, trị giá 11,50 triệu USD.

Chè là một sản phẩm đặc trưng của Thái Nguyên và sự đồng lòng giữa nhà nước, doanh nghiệp đã giúp "hồi sinh" thương hiệu chè này.

Vương quốc Anh - thị trường tiềm năng cho chè Việt Nam

Vương quốc Anh là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu chè Việt Nam. Tuy nhiên, chất lượng không đồng đều, thiếu thương hiệu là hai trong nhiều thách thức.

Sau 4 năm giảm liên tiếp, thị phần chè của Việt Nam tại thị trường Đài Loan (Trung Quốc) tăng trở lại.

Những cây chè cổ thụ trên đỉnh non ngàn được ví như “vàng xanh” của bà con đồng bào dân tộc thiểu số nhờ những giá trị quý giá hiếm sản phẩm nào có được.

Nước nào nhập khẩu nhiều chè nhất của Việt Nam?

Năm 2024, Việt Nam là thị trường cung cấp chè xanh lớn thứ 7 cho Hoa Kỳ, đạt 728 tấn, trị giá 1,8 triệu USD, tăng 70,1% về lượng và tăng 32,4% về trị giá.

Lượng chè nhập khẩu từ Việt Nam vào Trung Quốc 11 tháng năm 2024 tăng mạnh, chiếm 24,3% tổng lượng chè nhập khẩu vào Trung Quốc.

11 tháng năm 2024, xuất khẩu chè của Việt Nam đạt gần 133 nghìn tấn, trị giá 235 triệu USD, tăng 25,4% về lượng và tăng 26,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2023

Tháng 11/2024, xuất khẩu chè sang Pakistan giảm 25% về lượng và 23,9% về trị giá; Trung Quốc giảm 15,3% về lượng và 25,4% về trị giá;... so với tháng trước đó.

10 tháng, xuất khẩu chè sang Trung Quốc tăng rất mạnh đạt 11,4 nghìn tấn, tương đương 16,3 triệu USD, tăng 249% về lượng, tăng 114% về kim ngạch.

10 tháng năm 2024, xuất khẩu chè sang các thị trường chính tăng so với cùng kỳ năm 2023. Sản phẩm chè của Việt Nam đã xuất khẩu tới 74 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Pakistan - thị trường xuất khẩu lớn nhất mặt hàng chè của Việt Nam

Dù xuất khẩu chè tăng trưởng 2 con số, tuy nhiên, người làm chè mới tập trung vào sản xuất khiến giá chè xuất khẩu còn thấp.

Việt Nam hiện đứng thứ 5 về xuất khẩu chè. Lượng chè tiêu thụ trong nước chỉ bằng 1/3 so với lượng chè xuất khẩu, tuy nhiên giá trị tiêu thụ trong nước cao hơn.