Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ hai 19/11/2018 04:34

Dự thảo Luật Công an nhân dân có gì mới?

10:03 | 07/06/2018
Sáng ngày 7/6, Quốc hội tiếp tục làm việc tại hội trường nghe Tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Công an nhân dân (sửa đổi). Vậy dự thảo Luật này có gì mới?
Quốc hội nghe tờ trình về dự thảo Luật công an nhân dân (sửa đổi) 

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, báo cáo trước Quốc hội, Bộ trưởng Tô Lâm cho rằng, việc sửa đổi Luật Công an nhân dân là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong giai đoạn mới.

Cụ thể, việc sửa đổi nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần của Hội nghị Trung ương 6 Khóa XII. Trong đó, xác định: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an, không tổ chức cấp tổng cục, nâng cao chất lượng cấp cục trực thuộc Bộ Công an, sáp nhập Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy với Công an tỉnh, xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Bên cạnh đó, việc sửa đổi nhằm khắc phục một số khó khăn, vướng mắc, bất cập của Luật Công an hiện hành như: chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan hữu quan đối với hoạt động bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân nên việc triển khai thi hành còn lúng túng; thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân chưa phù hợp; chưa quy định rõ, đầy đủ về phát triển công nghiệp an ninh theo tinh thần Nghị quyết của Đảng lần thứ XII, Hiến pháp năm 2013.

Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm

Dự thảo Luật gồm 7 chương, 48 điều. So với Luật Công an nhân dân năm 2014, dự thảo Luật đã bổ sung 4 điều, sửa đổi, bổ sung 31 điều, bỏ 1 điều. Trong đó có một số nội dung thay đổi quan trọng như: Sửa quy định về thời hạn công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân từ 03 năm xuống còn 02 năm; kéo dài thời gian phục vụ tại ngũ trong một số trường hợp. - Bổ sung quy định về hạn tuổi phục vụ cao nhất của hạ sĩ quan (45 tuổi), nữ sĩ quan cấp Tướng trong Công an nhân dân (60 tuổi).

Xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy phù hợp với tình hình mới. Báo cáo của Bộ Công an cho thấy, hiện nay, số đơn vị đã được bố trí Công an chính quy là 1.065; số đơn vị chưa được bố trí Công an chính quy còn 8.516. Như vậy, để xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy thì Bộ Công an sẽ điều động khoảng 25.000 Công an chính quy trong biên chế hiện có (không tăng thêm biên chế) xuống đảm nhận các chức danh Công an xã. Chính phủ chỉ đạo việc sắp xếp, bố trí lại đội ngũ công chức đang làm Trưởng Công an xã, thị trấn.

Một nội dung mới khác là sửa đổi quy định cấp bậc hàm cao nhất đối với chức vụ của sĩ quan Công an nhân dân theo hướng: không quy định cứng số lượng các vị trí có cấp bậc hàm cao nhất là cấp Tướng mà chỉ xác định các chức vụ, chức danh có cấp bậc hàm cao nhất là cấp Tướng để bảo đảm linh hoạt và phù hợp với tổ chức bộ máy mới của Bộ Công an.

Theo dự thảo Luật, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an; Cục trưởng cục  đặc biệt; nâng lương cấp bậc hàm Đại tướng, Thượng tướng. Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền về nâng lương cấp bậc hàm Trung tướng, Thiếu tướng phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng An ninh (UBQPAN) do Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh của Quốc hội trình bày khẳng định, việc sửa đổi Luật công an nhân dân 2014 là cần thiết, tuy nhiên có một số nội dung sửa đổi cần thêm ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Về Công an xã, thị trấn trong hệ thống tổ chức của Công an nhân dân, UBQPAN tán thành với dự thảo Luật về Công an xã, thị trấn chính quy hóa theo chủ trương của Đảng. Tuy nhiên, đề nghị quy định bảo đảm lộ trình thực hiện theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền; phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền địa phương, với lực lượng Quân sự địa phương. Đồng thời, nghiên cứu sửa Luật Tổ chức chính quyền địa phương để bảo đảm sự đồng bộ giữa 02 Luật.

Về quy định vị trí chức vụ có cấp bậc hàm cấp tướng trong lực lượng công an vẫn còn 2 loại ý kiến. Một là giữ nguyên như Luật hiện hành. Hai là tán thành quy định như dự thảo Luật cho phù hợp với yêu cầu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an, bảo đảm bí mật về tổ chức cũng như để linh hoạt trong thực tiễn, tránh phải sửa đổi Luật khi có sự điều chỉnh về tổ chức, bộ máy. Tuy nhiên, để bảo đảm chặt chẽ, cần bổ sung quy định cụ thể tiêu chí Cục đặc biệt; số lượng vị trí cấp phó có cấp bậc hàm cấp tướng trong CAND để giao UBTVQH hoặc Chính phủ quy định cụ thể, tránh thực hiện thiếu thống nhất hoặc lạm dụng khi áp dụng điều luật.

Về cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng đối với Giám đốc Công an cấp tỉnh có 3 loại ý kiến (1) Tán thành với quy định của dự thảo Luật vì cho rằng: Việc quy định Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở địa phương được phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng là đúng nhu cầu, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công an cấp tỉnh hiện nay, cũng như phù hợp với chủ trương của Đảng về xây dựng và tổ chức CAND theo hướng “bộ tinh, tỉnh mạnh”. Tuy nhiên, việc xác định Giám đốc Công an tỉnh, thành phố có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng cần bổ sung tiêu chí vị trí chiến lược về an ninh, trật tự, tình hình an ninh, trật tự và quy định cụ thể ngay trong Luật;

(2) Đề nghị quy định tất cả Giám đốc Công an cấp tỉnh có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng vì cho rằng, chức năng, nhiệm vụ của Giám đốc Công an cấp tỉnh là tương đương và đều thuộc sự chỉ huy, điều hành trực tiếp của lãnh đạo Bộ như các cục thuộc Bộ; đồng thời bảo đảm bình đẳng và thuận lợi trong việc xem xét quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo Bộ Công an; bảo đảm tính tương quan giữa lãnh đạo cấp cục với lãnh đạo Công an cấp tỉnh và vẫn bảo đảm tổng số tướng của lực lượng Công an theo xác định của cấp có thẩm quyền. Ý kiến này cũng đề nghị xem xét sửa đổi Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để xin ý kiến của cấp có thẩm quyền về vị trí cấp tướng đối với chỉ huy cơ quan quân sự cấp tỉnh cho thống nhất;

(3) Không nhất trí như quy định của dự thảo Luật vì cho rằng, quy định cấp bậc hàm cao nhất của Giám đốc Công an cấp tỉnh phải tương đương với chỉ huy cơ quan quân sự cấp tỉnh để bảo đảm tương quan trong hệ thống chính trị và giữa lực lượng CAND với Quân đội nhân dân ở địa phương. Mặt khác, việc phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I như Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của UBTVQH không căn cứ vào tiêu chí về an ninh, trật tự; đồng thời, băn khoăn cho rằng trong quá trình thực hiện, số lượng tỉnh, thành phố được phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I có thể sẽ tăng lên dẫn đến số lượng cấp tướng tăng.

UBQPAN nhận thấy, đây là vấn đề hệ trọng đã được cấp có thẩm quyền quyết định khi xây dựng Luật CAND năm 2014. Nay Chính phủ đề nghị sửa đổi, bổ sung nội dung như dự thảo Luật, cần phải nghiên cứu và đánh giá kỹ. Tuy nhiên, thời điểm sửa Luật CAND năm 2014 được nghiên cứu sửa đổi cùng Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam theo mô hình tổ chức cũ; nay mô hình tổ chức mới của Bộ Công an đã xây dựng theo hướng sắp xếp, thu gọn đầu mối, không có cấp trung gian. Do vậy, đề nghị Quốc hội nghiên cứu, thảo luận cho ý kiến và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Về thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức cũng có 2 ý kiến. Cụ thể, loại ý kiến thứ nhất đề nghị cân nhắc quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm đối với chức vụ Cục trưởng Cục đặc biệt trong dự thảo Luật cho phù hợp. Vì theo khoản 3 Điều 98 của Hiến pháp và khoản 6 Điều 28 của Luật Tổ chức Chính phủ thì Thủ tướng Chính phủ chỉ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức vụ Thứ trưởng và tương đương; Loại ý kiến thứ hai tán thành với quy định như dự thảo Luật vì cho rằng, theo quy định của Luật CAND hiện hành thì Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền bổ nhiệm đến chức vụ Tổng Cục trưởng, Tư lệnh, Chính ủy Bộ Tư lệnh. Tuy nhiên, do Bộ Công an sắp xếp lại tổ chức, bộ máy, không có cấp tổng cục, theo đó hình thành một số cục có tính chất quan trọng, đặc biệt nên việc giao Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm chức vụ Cục trưởng Cục đặc biệt là phù hợp.

UBQPAN tán thành với loại ý kiến thứ nhất để bảo đảm sự thống nhất với các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành.

Những nội dung còn có ý kiến khác nhau sẽ tiếp tục được lấy ý kiến và thảo luận để đảm bảo tính khả thi của Luật khi đi vào cuộc sống.

Đình Dũng - Nguyễn Hạnh