Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ ba 13/04/2021 03:12

Đại dịch Covid-19: Cơ hội "làm mới" du lịch Việt Nam

17:07 | 30/03/2021
Du lịch nội địa rõ ràng là hướng ưu tiên trong giai đoạn hiện nay khi tình hình dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp trên toàn cầu. Nhưng việc mở cửa đón khách du lịch quốc tế lại là xu hướng và cuộc đua của các quốc gia trong việc xây dựng hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn.

Đây là nhấn mạnh của PGS-TS Phạm Hồng Long – Trưởng khoa Du lịch, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tại cuộc trao đổi về xu hướng du lịch trong bối cảnh Covid-19 với Báo Công Thương.

Đại dịch Covid-19: Cơ hội
Nhu cầu du lịch của người dân các quốc gia trở nên “bức thiết” sau khi bị đóng băng bởi dịch Covid-19

Ngoài những tác động tiêu cực của dịch Covid-19, theo nhiều nhận định, khó khăn cũng đã mang lại cho du lịch Việt Nam những bài học trong xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Quan điểm của ông về vấn đề này?

Trong nhiều diễn đàn du lịch, tôi đã nhấn mạnh rằng, đại dịch Covid-19 đã cho chúng ta nhiều bài học. Bên cạnh bài học về xây dựng quỹ dự phòng khủng hoảng, bài học về liên kết và hợp tác trong khủng hoảng, bài học về xây dựng chương trình và sản phẩm du lịch, bài học về phát triển du lịch bền vững, thì bài học về cân bằng cơ cấu thị trường khách là bài học đầu tiên chúng ta cần tính tới. Những bài học này cũng chính là những cơ hội để chúng ta “làm mới” và “sống động” lại ngành du lịch Việt Nam.

Có một thời gian dài, chúng ta đã quá coi trọng số lượng khách quốc tế đến Việt Nam (khách inbound) mà chưa dành sự quan tâm thấu đáo đến thị trường khách có khả năng chi trả cao. Hậu quả, nguồn thu từ du lịch so với các quốc gia có số lượng khách tương đương còn thấp, tổ chức hệ thống lãnh thổ du lịch Việt Nam (từ bộ máy tổ chức, nhân sự, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện đảm bảo an ninh, an toàn và môi trường…) không đáp ứng nổi nhu cầu của du khách.

Với hiện trạng đại dịch Covid-19 hiện nay, trên cả góc độ phân tích dự báo lý thuyết và thực tiễn, thì việc mở cửa lại thị trường khách du lịch chúng sẽ cần rất nhiều thời gian. Nhưng việc đón những thị trường khách cao cấp, có khả năng chi trả cao, thời gian lưu trú dài ngày là khả thi để chúng ta phát triển du lịch với quy mô “nhỏ mà vẫn đẹp”, “ít mà vẫn sang” ở những khu nghỉ dưỡng cao cấp - những nơi có thể tổ chức nhiều loại hình, dịch vụ du lịch với tính chất nhóm nhỏ, biệt lập, đảm bảo ở mức độ an toàn phòng chống dịch cao nhất.

Đại dịch Covid-19 cũng là cơ hội để làm “sống động” lại du lịch Việt Nam
PGS-TS Phạm Hồng Long – Trưởng khoa Du lịch Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đến nay, ông có nhận xét gì về xu hướng du lịch nói chung trong bối cảnh thế giới đã xác định “sống chung với Covid-19”?

Đại dịch Covid-19 đã làm cho du lịch thế giới năm 2020 trở về thời điểm xuất phát cách đây 30 năm về lượng du khách quốc tế. Năm 2021 vẫn là một năm mà du lịch thế giới chưa có nhiều dấu hiệu khởi sắc. Hơn lúc nào hết, nhu cầu du lịch của người dân các quốc gia trở nên “bức thiết” và do vậy việc lựa chọn địa điểm, phương thức và loại hình du lịch sẽ được du khách quan tâm nhiều.

Với bối cảnh “sống chung với Covid” trong “điều kiện bình thường mới” thì các xu hướng đã được đề cập đến từ năm 2020 chắc chắn sẽ còn được quan tâm trong thời gian dài.

Trước hết, là xu hướng du lịch nội địa - du lịch về nhà và du lịch tại chỗ (staycation): Những chuyến tham quan du lịch gắn liền với nghỉ ngơi ngắn ngày ở trong nước – “về nhà” và tại “quê hương” - xung quanh khu vực du khách sinh sống. Thứ hai là xu hướng du lịch xanh gắn với những địa điểm thiên nhiên biệt lập và văn hóa bản địa: Cho phép du khách thoát khỏi cuộc sống thực tại, được đắm mình vào thiên nhiên, tĩnh tại và cảm nhận dòng chảy của thời gian. Những trải nghiệm “tắm rừng”, thiên nhiên và cuộc sống đời thường của cư dân bản địa mang đến những phút giây chậm rãi tuyệt vời.

Thứ ba là xu hướng du lịch nghỉ dưỡng kết hợp chăm sóc sức khỏe: Các loại hình nghỉ dưỡng kết hợp thể dục dưỡng sinh, thiền, yoga, trị liệu bằng khoáng chất, spa - thẩm mỹ, trải nghiệm ẩm thực - thức ăn dinh dưỡng,... cho phép du khách không chỉ phục hồi tái tạo sức lao động, mà còn giúp du khách thoải mái thư giãn, nuôi dưỡng tinh thần và làm đẹp thể chất. Thứ tư là xu hướng du lịch thông minh và tiếp cận chuyển đổi số trong tiêu dùng du lịch. Theo đó, du lịch thông minh cho phép du khách tiếp cận đặt dịch vụ du lịch với phương thức hiện đại, nhưng không thể thay thế hoàn toàn các loại hình du lịch truyền thống giúp du khách có được trải nghiệm với đầy đủ các giác quan của con người.

Thứ năm là xu hướng “mở cửa” đón khách du lịch quốc tế với điều kiện đảm bảo xét nghiệm và tiêm vaccine phòng Covid-19: Việc xét nghiệm Covid-19 âm tính cũng như tiêm vaccine phòng Covid-19 trước chuyến đi là một trong những đảm bảo tất yếu để du lịch các nước có thể thông thương lại. Các nước tiên phong trong xu hướng này sẽ có lợi thế về phát triển du lịch đón khách quốc tế đến (inbound), từ đó thúc đẩy phát triển không chỉ du lịch mà còn các ngành kinh tế dịch vụ liên quan.

Đại dịch Covid-19: Cơ hội
Xu hướng du lịch xanh gắn với những địa điểm thiên nhiên biệt lập và văn hóa bản địa sẽ là chủ đạo trong bối cảnh dịch Covid-19

Ở góc độ nghiên cứu, ông nhìn nhận gì về việc thời gian gần đây nhiều quốc gia đang lên kế hoạch “hộ chiếu vaccine” để có thể sớm tái khởi động hoạt động giao thương du lịch.

“Hộ chiếu vaccine” hoặc “giấy thông hành xanh” nhằm giúp thúc đẩy thông thương, cho phép người dân dịch chuyển – đi lại trong điều kiện “bình thường mới”. Tôi cho rằng, hộ chiếu vaccine là ý tưởng hay nhưng không mới. Ở góc độ là khách du lịch, tôi đã từng sang một số nước châu Phi và cũng đã từng phải tiêm vaccine phòng chống bệnh sốt vàng da (khi có giấy chứng nhận tiêm phòng mới được vào châu Phi), theo đó “hộ chiếu vaccine” có tính chất tương tự và tôi ủng hộ việc xem xét lưu hành hộ chiếu này để tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế dịch vụ du lịch ở một “quy mô cho phép”.

Tuy nhiên, dưới lăng kính của nhà quản lý hay nghiên cứu du lịch, đòi hỏi chúng ta cần có cái nhìn thận trọng hơn về hộ chiếu này. Trước hết, chúng ta cũng phải khẳng định rằng “hộ chiếu vaccine” không phải là tấm giấy thông hành đảm bảo tuyệt đối an toàn cho mọi du khách, điểm gửi khách và điểm đón khách du lịch. Hơn thế, “hộ chiếu vaccine” sẽ tạo ra sự bất bình đẳng về quyền tự do đi lại của du khách, cũng như kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những người chưa có được “hộ chiếu vaccine” (mà số người này thực tế sẽ rất lớn, do điều kiện tiếp cận và ưu tiên tiêm phòng vaccine bị hạn chế) hay không có điều kiện tiêm phòng vaccine.

Với điều kiện Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng chúng ta sẽ không thể áp dụng “hộ chiếu vaccine” trên diện rộng cho tất cả các quốc gia, mà có thể cân nhắc cho phép áp dụng “hộ chiếu vaccine” ở quy mô hẹp, với những thị trường du lịch quốc tế kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19. Và nếu làm theo cách này, thực tế cũng không khác nhiều so với ý kiến mà tôi và nhiều học giả đã đề cập trước đây về thông thương “hành lang du lịch” hay “bong bóng du lịch” giữa 2 quốc gia hoặc một số quốc gia. Có chăng, sự khác biệt này nằm ở “hộ chiếu vaccine” có tính chất an toàn và đảm bảo cho việc đón tiếp khách hơn.

Nhờ kiểm soát và phòng, chống dịch Covid-19 thành công, nhiều ý kiến cho rằng, nếu tận dụng tốt lợi thế này và có kế hoạch, quy trình đón khách du lịch quốc tế thì Việt Nam có thể vượt một số nước trong khu vực, đơn cử như Thái Lan. Ông nghĩ sao về nhận định này?

Theo báo cáo số 9 mới ra gần đây nhất của UNWTO, tính đến ngày 01/02/2021 vẫn có 32% trên tổng số 217 điểm đến đóng cửa hoàn toàn cho du lịch quốc tế, số lượng các quốc gia chỉ đóng cửa một phần chiếm 34%, và chỉ có 2% đã dỡ bỏ hoàn toàn lệnh hạn chế đi lại liên quan đến Covid-19. Như vậy, có thể thấy, đại dịch Covid-19 đã thiết lập “một trật tự” thế giới mới về du lịch. Các nước gần như “bình đẳng” về việc chịu ảnh hưởng của Covid-19, dẫn đến lượng khách quốc tế vào (inbound) cũng tương tự như nhau.

Thái Lan vốn là một cường quốc về lượng khách quốc tế cũng như thu nhập từ du lịch, cho đến thời điểm này cũng chưa thể mở cửa đón khách quốc tế trở lại. Với việc kiểm soát và phòng, chống dịch Covid-19 tốt, Việt Nam sẽ được bạn bè quốc tế nhìn nhận như một “điểm đến an toàn, hấp dẫn”. Việc lập kế hoạch chu đáo và quy trình đón khách du lịch quốc tế sớm tạo điều kiện cho Việt Nam “xuất phát” tốt. Nhưng “đường đua” du lịch quốc tế vốn dài, nhiều rào cản, đòi hỏi “nền tảng sức bền” tốt để có thể “bứt phá” và “tăng tốc” về đích.

Theo tôi, trong tương lai gần, Việt Nam sẽ khó vươn lên bắt kịp và vượt qua được du lịch Thái Lan do du lịch Thái Lan có truyền thống, nền tảng tốt và ở một trình độ cao. Khi chúng ta bứt phá 10, họ bứt phá 1-2 cũng tạo ra những khoảng cách lớn để chúng ta theo đuổi.

Vì vậy, để có một bước tiến mới, có rất nhiều điều kiện và vấn đề chúng ta sẽ phải tiến hành đồng bộ để xây dựng được một ngành du lịch chuyên nghiệp và hiệu quả như: Nền tảng văn hóa và tư duy nhận thức về du lịch, chính sách phát triển du lịch, nhân lực du lịch, sản phẩm du lịch, môi trường du lịch, công nghệ du lịch...

Xin cảm ơn ông!

Hoa Quỳnh (thực hiện)