Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Email: dientu@baocongthuong.com.vn

Trước Áp lực kiện phòng vệ thương mại: Học cách “sống chung với lũ”

10:01 | 14/04/2018
Thời gian qua, hàng loạt vụ việc phòng vệ thương mại (PVTM) được khởi xướng điều tra đã nối dài chuỗi gian nan, vướng mắc của hàng hóa XK. Dự kiến, các biện pháp PVTM được thị trường NK áp dụng sẽ còn gia tăng khi kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, buộc các DN, ngành hàng phải nhanh chóng nâng cao năng lực ứng phó, chấp nhận “sống chung với lũ”.
Da giày là một trong các ngành hàng  phải đối mặt với các vụ kiện phòng vệ thương mại. Ảnh: S.T

Xuất khẩu ít hay nhiều đều bị kiện

Theo Cục PVTM (Bộ Công Thương): Tính đến thời điểm hiện tại, đã có 128 vụ việc PVTM được khởi xướng điều tra bởi 17 quốc gia và vùng lãnh thổ đối với hàng hoá XK của Việt Nam. Trong số đó, Hoa Kỳ là nước khởi xướng điều tra nhiều nhất (25 vụ, chiếm 20%); thứ hai là Thổ Nhĩ Kỳ (19 vụ, chiếm 15%); thứ ba là Ấn Độ (15 vụ, chiếm 12%) và thứ tư là EU (14 vụ, chiếm 11%). Dẫn đầu là các vụ việc điều tra chống bán phá giá (77 vụ việc, chiếm 60%); tiếp đó là các vụ việc tự vệ (23 vụ, chiếm 18%); thứ ba là các vụ việc chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá (17 vụ việc, chiếm 13%) và cuối cùng là các vụ việc chống trợ cấp (11 vụ việc, chiếm 9%).

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, Phó Cục trưởng Cục PVTM Chu Thắng Trung cho hay: Hàng hoá là đối tượng bị điều tra áp dụng biện pháp PVTM vô cùng đa dạng, từ các mặt hàng nông, thủy sản cho đến các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo. Trước đây, chỉ những mặt hàng có kim ngạch XK lớn như thuỷ sản, da giày mới bị kiện, nhưng nay, ngay cả những mặt hàng có kim ngạch nhỏ cũng phải đối mặt với các vụ kiện. Có thể nói, bất cứ hàng hoá XK nào cũng có khả năng là đối tượng bị điều tra áp dụng PVTM.

Đáp lại câu hỏi, đâu là những nguyên nhân mấu chốt khiến hàng hóa XK của Việt Nam ngày càng phải đối mặt với nhiều vụ kiện PVTM, theo ông Trung: Tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu ngày càng sâu rộng, các hàng rào thương mại truyền thống như thuế quan dần dần được dỡ bỏ, các cam kết mở cửa thị trường được đẩy mạnh cùng với sự gia tăng của các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Đây được xem là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các biện pháp PVTM ngày càng được sử dụng nhiều như một công cụ hợp pháp để bảo hộ sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, tính chu kỳ của các nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến sự gia tăng của các biện pháp PVTM. Các chuyên gia pháp lý về thương mại quốc tế đã chỉ ra rằng, số lượng các vụ việc PVTM xảy ra nhiều hơn trong thời kỳ suy thoái và khủng hoảng kinh tế. Khi đó, các ngành sản xuất trong nước bị suy giảm có xu hướng viện đến các biện pháp PVTM để bảo vệ lợi ích của mình. 

Ông Trung cũng nêu ra một nguyên nhân khác là các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu đang ngày càng được mở rộng và liên kết nhiều quốc gia với nhau. Vì vậy, các vụ kiện về PVTM phát sinh những xu hướng mới như kiện chùm (kiện đồng thời nhiều nước), kiện chống lẩn tránh thuế (kiện một nước để ngăn chặn khả năng lẩn tránh một biện pháp thuế đã áp cho nước khác), kiện đô-mi-nô (nước này kiện được thì nước khác cũng theo đó đi kiện), kiện kép (kiện đồng thời chống bán phá giá và chống trợ cấp) làm gia tăng số lượng các vụ kiện về  PVTM.

Liên quan tới vấn đề này, bà Nguyễn Thị Thùy Dung, Trưởng phòng PVTM Trung tâm WTO, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nêu quan điểm: Thực tế, phần lớn các vụ kiện PVTM mà hàng hóa XK Việt Nam phải đối mặt đều xuất phát từ việc các nhà sản xuất ở thị trường NK cảm thấy bị đe dọa trong cạnh tranh với hàng hóa NK từ nước ngoài. Như vậy, khi sức cạnh tranh của hàng XK càng lớn thì nguy cơ bị kiện cũng càng nhiều hơn. Không có nước nào có thể hoàn toàn loại bỏ nguy cơ bị kiện đối với hàng hóa XK.

Thiếu kinh nghiệm ứng phó

Trong số các vụ kiện PVTM từ trước tới nay, điểm dễ nhận thấy là công tác kháng kiện của một số ngành hàng, DN chưa hiệu quả. Nhiều chuyên gia cho rằng, kết quả công tác kháng kiện có khả quan hay không phụ thuộc vào cả lý do chủ quan lẫn khách quan. Hiện nay, trào lưu bảo hộ và chủ nghĩa đơn phương vẫn tiếp tục song hành cùng với tiến trình tự do hóa thương mại, do đó việc kháng kiện thành công một vụ việc không đơn giản, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa DN, hiệp hội và Chính phủ.

Thời gian qua, Cục PVTM đã chủ động hỗ trợ cho DN XK Việt Nam như cảnh báo sớm cho các DN hiệp khi phát hiện nguy cơ bị kiện; thông báo cho DN ngay khi có tin nguyên đơn nộp đơn kiện; tư vấn thủ tục, định hướng xử lý cho DN; hỗ trợ DN xây dựng lập luận để phản bác lập luận của nguyên đơn; tư vấn việc lựa chọn luật sư hỗ trợ pháp lý… Trong thời gian tới, Cục sẽ tiếp tục đẩy mạnh các công tác trên, đồng thời tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng vệ thương mại tới các DN XK.

Theo ông Trung, có thể nhìn nhận rằng công tác kháng kiện của một số ngành hàng, DN trong nước còn chưa thực sự hiệu quả do thiếu kinh nghiệm ứng phó với các vụ kiện PVTM so với đối thủ nước ngoài. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Mức độ hiểu biết của đa số các DN Việt Nam về PVTM còn hạn chế, chưa có nhiều kinh nghiệm kháng kiện, chưa có kế hoạch đầu tư hợp lí vào việc kháng kiện cũng như chưa có chiến lược, định hướng rõ ràng, quyết tâm và chuyên nghiệp khi kháng kiện. Ngoài ra, năng lực tài chính của các DN Việt Nam còn yếu, trong khi chi phí để kháng kiện rất cao, để thành công có thể cần phải thuê luật sư tư vấn dày dạn kinh nghiệm từ chính nước khởi xướng điều tra. Bên cạnh đó, nhiều DN chưa đáp ứng yêu cầu của cơ quan điều tra trong việc cung cấp tài liệu, số liệu, hệ thống lưu giữ tài liệu, hợp đồng, dữ liệu, hoá đơn chưa đầy đủ, khoa học và hệ thống. Một số DN còn tâm lý né tránh, không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ vào công tác kháng kiện trong khi sự tham gia vào toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc lại có vai trò quyết định cơ hội thành công cho DN.

Làm sao để “sống chung với lũ”?

Trong xu thế kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu với kinh tế thế giới, các DN XK cần đối diện với các vụ kiện PVTM như “sống chung với lũ”. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là các DN sẽ phải làm gì để hạn chế thấp nhất việc bị khởi kiện PVTM cũng như gia tăng khả năng thành công khi đã bị kiện?

Về vấn đề này, nhiều chuyên gia nêu quan điểm: Trước tiên, các DN nên tự bảo vệ bằng cách trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về pháp luật PVTM. Ngoài ra, DN nên thường xuyên có hoạt động trao đổi thông tin với hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước nhằm nắm bắt được những thông tin cảnh báo sớm về khả năng bị khởi kiện tại thị trường XK, từ đó lên phương án điều chỉnh hoạt động kinh doanh để tránh bị khởi kiện. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho mình trong việc tham gia các vụ kiện PVTM, các DN Việt Nam cần phải củng cố quan hệ với các bạn hàng, đối tác bên phía nước ngoài vì nhóm những đối tác này cũng là một bên có lợi ích bị ảnh hưởng bởi vụ việc điều tra PVTM. Tiếng nói phản đối việc điều tra của các nhà NK cũng sẽ tạo ảnh hưởng tới việc ra quyết định của cơ quan điều tra nước ngoài. Các nhà NK cũng là những người nắm được thông tin của thị trường nước NK và có thể thông tin kịp thời về các động thái của cơ quan điều tra nước NK cho DN Việt Nam.

Ông Trung lưu ý thêm, khi vụ việc đã được khởi xướng điều tra, bước đi phù hợp của DN XK là cần tích cực tham gia vào công tác kháng kiện, hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra để tránh trường hợp cơ quan điều tra sử dụng dữ liệu sẵn có bất lợi để tính toán biên độ phá giá, trợ cấp. Thông thường, mức thuế được tính trên dữ liệu sẵn có bất lợi này rất cao, có thể dẫn tới việc DN hoàn toàn mất khả năng cạnh tranh và buộc phải rút khỏi thị trường.

Phó Cục trưởng Cục PVTM Chu Thắng Trung: “Nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ bị khởi kiện điều tra PVTM từ các nước khác, DN cần đa dạng hoá thị trường, tìm kiếm thị trường XK mới, đa dạng hoá sản phẩm, tránh tăng trưởng XK quá nóng vào một thị trường, chuyển dần từ chiến lược cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng và thương hiệu. Như chúng ta thấy phần lớn các sản phẩm bị điều tra thường rơi vào những mặt hàng sử dụng nhiều lao động, sản xuất hàng loạt, sử dụng nhiều tài nguyên môi trường, giá rẻ… với lượng giá trị gia tăng không cao. Do đó, DN cần tăng cường công tác nghiên cứu, phát triển, mở rộng sản xuất những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn bằng cách đầu tư công nghệ, thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm XK”.

Theo Báo Hải quan