Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ tư 15/08/2018 19:36

Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may: Chiến lược đúng đắn & sự kiên trì

08:00 | 19/05/2018
Theo Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) giai đoạn 2016-2025, danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ dệtmay được ưu tiên phát triển bao gồm: Xơ thiên nhiên: Bông, đay, gai, tơ tằm; Xơ tổng hợp: PE, Viscose; Sợi dệt kim, sợi dệt thoi; sợi Polyester có độ bền cao, sợi Spandex, nylon có độ bền cao; Vải: Vải kỹ thuật, vải không dệt, vải dệt kim, vải dệt thoi; Chỉ may trong ngành dệt may; Hóa chất, chất trợ, thuốc nhuộm phục vụ ngành nhuộm hoàn tất vải; Phụ liệu ngành may: cúc, mex, khóa kéo, băng chun...

Cho đến nay, mặc dù là một trong những ngành hàng xuất khẩu mang lại giá trị kim ngạch cao và đi tiên phong trong việc đầu tư đổi mới công nghệ nhưng có thể nói các DN dệt may Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu hoặc là sản xuất hàng gia công cho các DN nước ngoài; hoặc sản xuất làm hàng FOB (mua nguyên liệu - bán thành phẩm). Một trong những nguyên nhân chính của thực trạng này là công nghiệp hỗ trợ (CNHT) cung ứng nguyên phụ liệu cho ngành dệt may vừa thiếu và yếu. Có những nguyên phụ liệu đơn giản như kim, chỉ, dây néo, móc áo, bao bì, nhãn mác... hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài.

Vẫn còn băn khoăn về hướng đi

Trong những năm gần đây, Chính phủ, Bộ Công Thương và nhiều địa phương đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp (DN) đầu tư phát triển CNHT nói chung và CNHT ngành dệt may nói riêng. Đồng thời, nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm với sự tham gia của đông đảo các nhà quản lý, chuyên gia kinh tế, các DN... đã được tổ chức nhằm tìm giải pháp khắc phục những yếu kém, tồn tại để ngành dệt may Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là, đến nay nhiều ý kiến vẫn chưa thống nhất về vấn đề ngành dệt may Việt Nam nên triển khai chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ cụ thể như thế nào và mức độ đến đâu?

Một số DN nêu ví dụ sản xuất bông, sợi, nhuộm của Việt Nam không có lợi thế, và đến nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành vải trong nước thì việc lựa chọn cách nhập khẩu vải để sản xuất hàng may mặc vẫn là tối ưu. Thậm chí, có những ý kiến cực đoan cho rằng không cần thiết phải tốn kém đầu tư cho các công nghệ đã lạc hậu, nguy cơ gây
ô nhiễm môi trường cao chỉ để thỏa mãn mục tiêu tăng tỷ lệ nội địa hóa. Đương nhiên, cách nhìn nhận này là hoàn toàn phiến diện. Bởi lẽ, nếu các DN dệt may không tìm cách nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thì cũng không thể được thụ hưởng các ưu đãi thuế từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, đa phương mang lại.

Theo đánh giá của các chuyên gia và doanh nghiệp trong ngành dệt may, nhìn sâu vào từng khâu đoạn trong chuỗi cung ứng dệt may ở nước ta có thể thấy những hạn chế rõ ràng. Đối với ngành sợi, các DN chủ yếu sản xuất sợi tơ tổng hợp, chiếm khoảng 61,7% tổng sản lượng sợi. Nhưng ngoài sản phẩm sợi dệt kim được sử dụng cho sản xuất dệt may trong nước, các loại sợi khác chủ yếu được xuất khẩu do khâu nhuộm hoàn tất còn hạn chế. Tương tự như vậy, ngành vải may của Việt Nam hiện nay đạt sản lượng khoảng 2,3 tỷ m2/năm, đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu thị trường trong nước. Vải sản xuất trong nước phần lớn được sử dụng để sản xuất quần áo chất lượng trung bình và thấp; chưa đáp ứng được yêu cầu của các DN sản xuất hàng may mặc xuất khẩu...

Theo đánh giá của Viện nghiên cứu Dệt may Việt Nam, hiện trình độ công nghệ trong ngành dệt nhuộm Việt Nam chậm hơn các nước trong khu vực từ 15-20 năm. Do công đoạn nhuộm và hoàn tất của Việt Nam còn kém phát triển nên các doanh nghiệp phải xuất vải mộc chưa qua nhuộm và hoàn tất và nhập khẩu vải đã qua xử lý về sử dụng. Ngành sản xuất phụ liệu dệt may cũng có thực trạng tương tự như vậy, chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu. Các loại khuy, cúc, mex và khóa kéo phải nhập khẩu với số lượng lớn và chủ yếu từ Trung Quốc. Trong lĩnh vực sản xuất mực, một số công ty trong nước đã sản xuất được loại mực có chất lượng tương đương với mực của Trung Quốc. Tuy nhiên, những loại mực đáp ứng được tiêu chuẩn cao của châu Âu thì Việt Nam mới đang trong giai đoạn nghiên cứu.

Có thể tham khảo một ví dụ từ chuyên gia trong lĩnh vực dệt may để thấy sự tốn kém khi đầu tư vào lĩnh vực dệt nhuộm: Nếu đầu tư một vị trí việc làm của công nhân may thì chỉ cần đầu tư 3.000 USD (con người và công nghệ), nhưng nếu đầu tư vị trí công nhân sợi hoặc dệt thì phải mất 200.000 USD. Đây quả thực là bài toán không hề dễ dàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Từ những con số nêu trên, có thể thấy vì sao cho tới nay, số lượng doanh nghiệp tham gia đầu tư vào lĩnh vực CNHT ngành dệt may vẫn còn tương đối khiêm tốn. Với các chính sách khuyến khích của Chính phủ, số lượng DN sản xuất sản phẩm CNHT tăng đáng kể trong 5 năm qua nhưng vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 18%) trong tổng số doanh nghiệp ngành dệt may.

Phải hướng đến làm chủ thiết kế

Đó là câu kết luận đầy tâm huyết của đại diện TCty 28 trong bài phát biểu tại Hội thảo “Phát triển thương hiệu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may” diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh vừa qua. Không muốn dừng lại ở gia công, TCty 28 đã tập trung đầu tư chiều sâu cho các xí nghiệp may cũng như đầu tư theo định hướng mặt hàng, nguồn hàng. Khâu thiết kế, nhảy cỡ và giác sơ đồ đã được thực hiện hoàn toàn trên máy vi tính với sự hỗ trợ của các phần mềm. Khâu xây dựng quy trình công nghệ và thiết kế dây chuyền đã được thực hiện đối với tất cả các mã hàng trước khi sản xuất. Đến nay, thương hiệu Belluni của công ty bắt đầu được biết đến trên thị trường. Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự khởi đầu, về lâu dài, để trụ vững trên thị trường thì cần có chiến lược đúng đắn và đặc biệt là phải kiên trì. Quan điểm này nhận được sự đồng cảm của công ty TNHH May Thêu Giày An Phước khi chia sẻ kinh nghiệm về phát triển thương hiệu. Là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực ODM (Original Design Manufacturing - sản xuất “thiết kế” gốc), đến nay các sản phẩm của An Phước đã định vị chỗ đứng vững chắc trong phân khúc thị trường cao cấp.

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận thì số DN đạt thành công như vậy chưa nhiều, và ngay cả các DN đã bước đầu tăng tỷ lệ ODM thì những khó khăn vẫn chồng chất. Chính vì vậy, các nhà hoạch định chính sách cần chia sẻ tâm lý lo lắng về tính khả thi của phát triển CNHT với DN; đặc biệt đối với những DN vẫn bị bó buộc trong cái vòng luẩn quẩn của gia công vì thiếu vốn, công nghệ và thị trường. Từ cơ sở đó để nghiên cứu, ban hành những cơ chế, quyết sách sát với thực tế, đúng với những gì cộng đồng doanh nghiệp cần để tạo bước đột phá cho CNHT ngành dệt may nói riêng và CNHT nói chung.

 

Đinh Linh